1/28/24

Tại sao phương Tây không thể ngăn chặn các cuộc tấn công tên lửa của phiến quân Houthi vào tàu

 Phân tích của   Business Insider


  • Mỹ đang khám phá ra có rất ít lựa chọn tốt để ngăn chặn người Houthis.
  • Vũ khí chống hạm hiện đại mạnh mẽ nhưng đủ đơn giản để một nhóm chiến binh có thể vận hành chúng.
  • Phiến quân Houthi nắm giữ lãnh thổ gần eo biển quan trọng mà họ có thể đe dọa bằng máy bay không người lái và tên lửa.


Khi nói đến sức mạnh quân sự thô sơ, Mỹ và các đồng minh sẽ không gặp vấn đề gì trong việc tiêu diệt lực lượng Houthi đang tấn công các tàu chở hàng ở Biển Đỏ.

Nhưng khi tên lửa của Houthi tiếp tục làm gián đoạn các tuyến đường vận chuyển và chuỗi cung ứng toàn cầu, Mỹ nhận thấy có rất ít lựa chọn tốt để ngăn chặn Houthi. Các cuộc tấn công liên tục của lực lượng Mỹ và Anh - bao gồm cả việc đánh chìm một số thuyền của Houthi - dường như không ngăn cản được Houthis, một nhóm nổi dậy người Shiite ở Yemen, một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới bị chiến tranh tàn phá.

Người Houthis không phải là một cường quốc quân sự lớn, nhưng họ không cần phải như vậy. Họ có ba lợi thế giúp tăng cường khả năng tạo ra sự tàn phá và gây khó khăn cho phương Tây trong việc ngăn chặn chúng.
Đầu tiên, đó là địa lý. Thiên nhiên đã quyết định rằng con đường tắt tốt nhất cho tàu bè di chuyển giữa Châu Âu hoặc bờ biển phía đông Hoa Kỳ tới Ấn Độ và Đông Á là Kênh đào Suez ở Ai Cập, nối liền Biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Đó là lý do tại sao các quốc gia đã chiến đấu hết mình để kiểm soát đường thủy trong Thế chiến thứ nhất và thứ hai. Người ta ước tính rằng có tới 15% thương mại thế giới và 20% đến 30% hàng hóa đến các cảng bờ đông Hoa Kỳ đi qua Kênh đào Suez dài 120 dặm.

Kênh đào này luôn dễ bị tổn thương, bằng chứng là khi con tàu container khổng lồ Ever Given mắc cạn vào năm 2021, làm gián đoạn thương mại toàn cầu trong nhiều tuần. Nhưng vấn đề ngày nay không phải là kênh đào Suez mà là mối đe dọa mà các tàu thuyền phải đối mặt khi đi qua Biển Đỏ và eo biển Bab el Mandeb ("cổng nước mắt" trong tiếng Ả Rập), giáp với Eritrea và Djibouti ở phía tây, và Yemen ở phía đông.

Bab el Mandeb chỉ dài 70 dặm và rộng 20 dặm, nằm trong tầm bắn dễ dàng của tên lửa chống hạm trên đất liền, máy bay không người lái và thậm chí cả pháo bắn đạn pháo tầm xa. Không giống như hầu hết các đường cao tốc, không có đường tránh nếu eo biển bị chặn.

Vấn đề thứ hai là công nghệ. Vũ khí chống hạm hiện đại mạnh mẽ nhưng đủ đơn giản để ngay cả một nhóm chiến binh cũng có thể vận hành chúng ( Hezbollah đã sử dụng tên lửa hành trình C-802 do Trung Quốc sản xuất để làm hư hại một tàu chiến của Israel vào năm 2006). Máy bay không người lái rất rẻ và ngay cả một chiếc máy bay không người lái nhỏ cũng có thể gây ra thiệt hại nhỏ cho một con tàu lớn.

Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, người Houthis có một loạt tên lửa diệt tàu đa dạng , chủ yếu là từ Iran nhưng với các mẫu cũ hơn của Liên Xô và Trung Quốc, theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế. Tên lửa hành trình chống hạm bao gồm P-21 Termit thời Liên Xô và C-801 của Trung Quốc (với tầm bắn lên tới 80 dặm), cũng như Ghadir của Iran (185 dặm) và Quds Z-0 (được báo cáo là lên tới 500 dặm). ). Houthis cũng có tên lửa đạn đạo chống hạm do Iran sản xuất với tầm bắn khoảng 300 dặm, cũng như máy bay không người lái.

Những tên lửa này được bắn từ các bệ phóng di động có thể nhanh chóng thay đổi địa điểm. Họ có thể bắn một tên lửa rồi bỏ chạy trước khi Hải quân Mỹ có thể xác định chính xác địa điểm phóng và tấn công nó bằng tên lửa hành trình Tomahawk. Người Houthi đã quen với những chiến thuật này từ cuộc chiến kéo dài 9 năm với liên minh do Saudi dẫn đầu đã ném bom không ngừng vào họ.

Địa lý tạo nên mối đe dọa công nghệ. Cách phòng thủ tốt nhất của con tàu không phải là súng hay thiết bị gây nhiễu mà là không gian rộng mở. Ngay cả một tàu sân bay khổng lồ cũng khó bị phát hiện giữa đại dương bao la và radar trên tàu của tên lửa chống hạm chỉ có thể quét một khu vực nhỏ .

Đó là lý do tại sao Mỹ và các quốc gia khác đầu tư rất nhiều công sức vào vệ tinh, máy bay tuần tra và cảm biến: để cung cấp dữ liệu theo dõi theo thời gian thực nhằm dẫn đường cho tên lửa đến gần một con tàu đang di chuyển. Nhưng Bab el Mandeb chỉ rộng 20 dặm, có nghĩa là tàu có thể được theo dõi bằng radar mặt đất, thuyền nhỏ, máy bay không người lái nhỏ hoặc thậm chí là người quan sát trên đỉnh đồi với một cặp ống nhòm tốt.

Vấn đề thứ ba là chính trị. Người Houthi tuyên bố họ chỉ tấn công các tàu của Israel vì tình đoàn kết với Gaza, mặc dù nhiều tàu không liên quan gì đến Israel . Nguyên nhân thực sự có vẻ là nỗ lực của Iran trong việc sử dụng lực lượng ủy nhiệm để trở thành cường quốc thống trị ở Vịnh Ba Tư và Trung Đông. Mặc dù người Houthis không phải là con rối của Iran, nhưng họ có một nhà tài trợ mạnh mẽ ở Iran gần đó và chính phủ theo đường lối cứng rắn của người Shiite , và cuộc đối đầu của họ với Israel là một lập trường phổ biến với người dân của họ và trên khắp các quốc gia Ả Rập nói chung. Tehran không chỉ hỗ trợ lực lượng Houthi bằng vũ khí và tiền bạc: Các báo cáo cho biết các tàu Iran đang cung cấp cho lực lượng Houthi thông tin về hoạt động di chuyển của tàu ở Biển Đỏ.

Giống như viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc đã hỗ trợ miền Bắc Việt Nam, sự hỗ trợ của Iran có thể duy trì lực lượng Houthi vô thời hạn. Các biện pháp trừng phạt chống lại người Houthis, chẳng hạn như động thái của Hoa Kỳ tái chỉ định họ là một tổ chức khủng bố, khó có thể có hiệu quả đối với một nhóm bị ám ảnh bởi sự tử đạo và dường như không quá lo lắng rằng người dân của họ đang chết đói.

Điều này không có nghĩa là người Houthis là bất khả chiến bại. Có lẽ các cuộc tấn công của phương Tây vào nền tảng quân sự và giám sát của họ - và thậm chí chống lại các nhà lãnh đạo của họ - có thể tạo ra sự khác biệt (Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc tấn công bằng máy bay không người lái chống lại Al Qaeda ở Yemen). Một thỏa thuận hòa bình đang diễn ra nhằm chấm dứt cuộc nội chiến ở Yemen, mà Liên Hợp Quốc ước tính đã khiến 227.000 người thiệt mạng, có thể ảnh hưởng đến hành vi. Hoặc, có lẽ người Houthis sẽ quyết định tập trung vào nhu cầu của một quốc gia nghèo đến mức một nửa dân số sống sót với số tiền tương đương 2 đô la một ngày.



Link: Đọc bản tiếng Anh.

1/25/24

Bản Tin Thụ Nhân Âu Châu Số 44 -Tháng 01.2024

Mạn Đàm Về Khỉ

Nhân dịp hàn huyên với bạn LN Minh trong ngày đầu năm, chúng tôi ôn chuyện quá khứ của những năm tháng lướt nhanh trong cuộc đời và nhắc đến câu chuyện "ba con khỉ." Khỉ đối với chúng ta, thiết nghĩ không ai xa lạ gì. Nhớ lại hồi còn nhỏ, có những lúc theo mẹ ra chợ, nghe tiếng trống phèng la vang dậy cả một góc đường, đám đông vây quanh, tôi cố chen vào đám đông để xem mấy ông Sơn Đông mãi võ, bày trò hát xiệc, cùng mấy chú khỉ nhào lộn mua vui, nhân đó rao bán thuốc dân tộc cổ truyền.

Trong 12 con giáp, nếu như hình ảnh con Rồng, biểu tượng gần chúng ta nhất về mặt tâm linh, tinh thần, thì Khỉ lại là biểu tượng gần chúng ta nhất về mặt vật chất, thể xác.


Các nhà nhân chủng học cho rằng con người và khỉ cùng chia sẻ môi trường sống trong thời tiền sử. Bởi vậy, trong số các con vật, loài khỉ có đặc tính gần nhất với con người, chúng thông minh hơn những con vật khác. Với người Việt Nam ta, khỉ cũng là con vật khá gần gũi, khỉ thường được huấn luyện để biểu diễn trên sân khấu xiếc, những chú khỉ khôn lỏi, nghịch ngợm, láu lỉnh, không chỉ khiến khán giả nhi đồng cười nghiêng ngả mà cả người lớn cũng thấy vui vẻ thích thú.


Dáng dấp đa dạng của khỉ cũng đi sâu vào đời sống dân gian qua những câu ca dao tục ngữ:

“Nhăn nhó như khỉ ăn gừng” 

“Rầu rĩ như khỉ mất con”

"Cười giòn như khỉ được ngô"

“Khỉ bồng con lên non kiếm trái /Cảm thương nàng phận gái mồ côi”

“Má ơi, đừng gả con xa /Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu?!” ...


Trong các nền văn hóa khác trên thế giới, hình ảnh con khỉ gắn liền với sự ranh ma, linh hoạt, nhanh nhẹn, thậm chí huênh hoang …

Với hình dáng một loài khỉ đột, khổng lồ, King Kong đã xuất hiện trong các bộ phim, hoạt hình, tiểu thuyết, truyện tranh, nhạc kịch từ năm 1933... King Kong đã khoác lên mình nhiều diện mạo khác nhau của cảm xúc: từ một con quái thú hung bạo cho tới bi kịch của một nhân vật phản anh hùng. Thậm chí King Kong còn gửi gắm một thông điệp phản chiến, yêu chuộng hòa bình của nhân loại.


Hình ảnh của con khỉ thân thương, khá gần gũi cũng xuất hiện trong rất nhiều sách báo, phim ảnh của nhân vật Tặc Giăng (Tarzan) - "con của rừng xanh". Câu chuyện nói về mối thân thiết của một cậu bé lớn lên trong rừng dưới sự nuôi dạy của đàn tinh tinh.


Cũng có những con khỉ trở thành biểu tượng được tôn vinh như Tôn Ngộ Không, còn gọi là Mỹ hầu vương ở Trung Quốc.


Trong văn hóa Việt Nam, hình tượng khỉ là linh vật rất phổ biến, xuất hiện ở nhiều nơi, tại tiệm bán đồ lưu niệm, cửa hàng sản phẩm công nghệ mỹ thuật, nhất là trong chùa chiền, hình tượng khỉ được khắc họa trong nhiều công trình kiến trúc xưa còn lưu lại cho đến ngày nay. Trong đó con khỉ xuất hiện rất sinh động, khi thì Hầu Vương ôm quả đào trong vườn của Tây Vương Mẫu; lúc lại là con khỉ cưỡi lên lưng con kia, có nghĩa là “bối bối phong hầu” (đời đời phong tước quan hầu); lúc lại là hình ảnh khỉ mẹ bồng khỉ con thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng … Tuy nhiên, hình tượng được truyền tải nhiều nhất là hình tượng bộ "3 con khỉ", khỉ dùng hai tay bịt mắt, bịt tai, và bịt miệng; còn gọi là “khỉ ba không”, Không nhìn! không nghe! không nói!

Đúng lý ra, mắt là để nhìn, tai để nghe, miệng để nói là những khả năng tự nhiên không thể khiếm khuyết.  Hơn nữa, có ai không muốn mình được là người thông minh, lanh lợi, nhưng tại sao lại phải bịt cả mắt, tai lẫn miệng, tựa như người mù, câm, điếc?


Trước tiên, tiền nhân dạy chúng ta bịt mắt lại, đừng nhìn bậy, đừng nhìn những cảnh tượng không nên nhìn, hoặc không nhìn bằng con mắt thiển cận, có thành kiến để tránh sự nhận thức sai lầm, chỉ thấy bề mặt chứ không thấy thực trạng của sự kiện và vấn đề.

Bịt tai là tránh nghe chuyện thị phi hoặc những gì có thể làm ô nhiễm tâm thanh tịnh của mình. Chuyện xưa kể rằng vua Nghiêu thấy Hứa Do là người hiền đức, nên hai lần mời ông ra làm tể tướng nhưng cả hai lần Hứa Do đều từ chối, sau đó vua Nghiêu lại một lần nữa đích thân “tam cố mao lư” với ý định nhường ngôi cho Hứa Do, Hứa Do vì cứ phải nghe chuyện quyền tước, mà ông lại chán ngấy con đường hoạn lộ, nên ông ra bờ sông Dịch Thủy rửa tai để tẩy trừ những gì đã ô nhiễm nội tâm của mình.


Bịt miệng có nghĩa là phải cẩn thận lời nói. Nhân vật nổi tiếng trong "Phong thần diễn nghĩa" Khương Tử Nha khuyên Chu Vũ Vương: “Tam giam kỳ khẩu”(三緘其口), ý là cần phải cẩn thận trong lời ăn tiếng nói. Tu thân bắt đầu từ cái miệng, tu được cái miệng là tu hơn nửa đoạn đường, lời nói không đúng lúc, đúng chỗ dễ mang họa vào thân.


Cũng có người ngộ giải hình tượng ba con khỉ là hãy cứ sống an phận, mặc kệ những gì “chướng tai, gai mắt” đang xảy ra xung quanh, sống bàng quan, “thây kệ” tất cả. Thực ra bộ tượng ba con khỉ là muốn nhắc chúng ta “đừng nhìn bậy, đừng nói bậy, đừng nghe bậy” chứ không phải thụ động là không, không, không và mặc kệ. Kỳ thực, tư tưởng này vốn dĩ rất phổ cập trong nhiều nền văn hóa khác trên thế giới.


Người Nhật Bản đặt tên ba con khỉ là Mizaru, Kikazaru và Iwazaru, chữ Nhật “zaru” nghĩa là “không”. Người Nhật tu Thiền dùng hình ảnh ba con khỉ để nói lên sự hệ trọng của ba căn trong sinh hoạt giao tế xã hội lẫn trong giới luật tu tập Thiền môn. Không nhìn, không nghe, không nói là khuôn vàng thước ngọc và là nguyên tắc chỉ đạo của nhiều thế hệ người Nhật.


Khổng Tử, người thầy chuẩn mực muôn đời của Trung Quốc, trong danh tác "Luận Ngữ" có câu:

“Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (nghĩa là “không nhìn điều sai, không nghe điều bậy, không nói điều trái, không làm điều quấy”).


Hình ảnh bộ khỉ “tam không” còn nhắc nhở chúng ta về “tâm viên, ý mã” (心猿意馬), Tâm như khỉ nhảy nhót, ý như ngựa chạy rong. Nhóm từ này là ẩn dụ cho vọng tâm của con người luôn luôn biến động bất định, không trụ lâu được. Muốn không rơi vào cảnh “tâm viên”, không tự làm khổ nội tâm chính mình, nhất là trong bối cảnh đời sống đương đại, khi luồng thông tin phát sinh mỗi ngày quá phức tạp và đa dạng, con người càng cần học ở “ba chú khỉ thông thái”, để không khổ vì nghe chuyện thiên hạ, vì nói chuyện thế gian và nhìn ngó chuyện người khác.


Nước Mỹ có câu truyền khẩu khá phổ biến: “See no evil, hear no evil, Speak no evil”. Không nhìn những việc gì xấu, không nghe những lời xấu, không nói những điều xấu; "No hear, no see, be silent, then you will live in peace'. Ai không thấy, không nghe, không nói, có thể sống một cuộc đời không lo.


Người Pháp có câu “Je ne vois pas, je ne me sens, je ne parle pas”; Người Quảng Đông có câu “Mậu thảy, mậu thén, mậu kỏn”.  Tất cả đều cùng nghĩa là “không …biên giới!!!”


Vượt trên những nhận thức về biểu tượng tam không của ba chú khỉ, theo Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng, chữ “Không” không có nghĩa là không có gì cả. “Không” ở đây là trạng thái vô sở trụ, là trạng thái vừa hữu vừa vô, vừa có vừa không có, nghĩa là ở trạng thái không có nhị nguyên đối lập, không có xung đột mâu thuẫn, không gắn liền với ai, không câu thúc vào cái gì cả. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Tâm không bám trụ vào chỗ nào thì tâm mới hiển hiện được, mới thực sự là tâm của ta - tâm giải thoát. Do đó, giải thoát là một trạng thái tâm không, nó như một tấm gương trong đó chứa đựng mọi thứ nhưng không lưu lại một thứ gì cả. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả Ngô Thừa Ân lại gán cho con khỉ mang họ“Tôn” và đặt tên là Ngộ Không. Tôn (孫) chiết tự theo chữ Hán là tử (子) và hệ (系), tử là con nít, hệ là hệ niệm (系念), tức là nghĩ đến, nhớ luôn, nghĩa là luôn luôn nghĩ đến bản chất trẻ thơ. Như vậy, "Tôn" giải chi li ra thành trẻ con, đây cũng là một ẩn ý muốn tu hành đạt đạo, con người phải có cái tâm hồn nhiên, không chấp như trẻ sơ sinh (xích tử chi tâm 赤子之心). Tức là ngộ được chân lý của “không” rồi chuyển hóa làm Tôn Hành Giả để đi đến cõi Phật.


Vì vậy, hình ảnh "Ba con khỉ" không có nghĩa đơn thuần là không nghe, không nhìn, không nói mà hình ảnh đó gợi cho chúng ta là một “pháp môn” giúp chúng ta tìm về một trạng thái làm chủ của tâm, tìm về bổn lai diện mục, một cách để nhìn lại cái gọi là “chân ngã” của chính mình.


Đây là kinh nghiệm mà người xưa đã chắt mót nên bài học cho hậu thế. Ngày nay, có rất nhiều phiên bản khác nhau về tượng “Tam không” này, người ta sử dụng những hình ảnh khác thay vì ba chú khỉ, có thể là hình ảnh ba ông Phật Di Lặc, hình ảnh ba chú tiểu, hình ảnh ba nhân vật hoạt hình, búp bê… vừa ngô nghê, hóm hỉnh nhưng lại chứa rất nhiều triết lý, tư tưởng triết học. 


Ngày Xuân năm mới, bên ly cà phê tách trà, ngồi ngẫm nghĩ ba chú khỉ, rồi quán chiếu nội tâm để dần dà tìm hiểu ý nghĩa của vạn pháp. Chợt nhớ lại câu Kinh: "Vạn pháp duy tâm tạo," vạn pháp đều sinh khởi từ tính không.


Thực vậy, vạn pháp chỉ là phương tiện, tâm mới là cứu cánh. Hiểu như vậy thì ý nghĩa của "khỉ tam không" là:“Bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói. Khi tâm ở trạng thái “ thanh tịnh”, thì tâm mới phát sinh những điều “thiện”, dùng cái tâm thiện, tâm đẹp để đối nhân xử thế.

Để ghi nhận lời dạy dỗ của Đức Phật và các vị Thánh Hiền, tôi có vài lời thô thiển về cảm nghĩ của mình qua biểu tượng ba con khỉ cùng triết lý thâm sâu ẩn tàng trong hình ảnh này.

"Thanh”, không phải không cầu không mong, mà là nội tâm không tham.

Tịnh”, không phải không bám bụi trần, mà là nội tâm vô nhiễm.

Tĩnh”, không phải xa lìa tiếng động , mà là nội tâm vô chấp.

清,不是人生無求,而是内心無貪.

淨,不是身上無塵,而是内心無染.

靜,不是耳邊無聲,而是内心無執.

Trong những ngày đầu năm mới, chúc các bạn gợi mở nhiều điều tốt đẹp, tìm được sự thanh tịnh vô nhiễm trong nội tâm và luôn hướng cuộc sống đến chân thiện mỹ.


Trường

01-24-2024


Giai Thoại Văn Chương : DƯƠNG GIỐC AI và TẢ BÁ ĐÀO

 

Sanh tử chi giao - Dương Giốc Ai, Tá Bá Đào (ảnh minh họa)

   
Như ta đã biết, cặp TRI KỶ nổi tiếng ở thời Xuân Thu là QUẢN TRỌNG 管仲 và BÀO THÚC NHA 鲍叔牙. Cả hai đã chơi với nhau và kết giao với nhau từ thuở nhỏ. Sau Bào Thúc Nha hiển đạt nhờ theo phò Tề Hoàn Hoàn. Tề Hoàn Công định phong cho Bào Thúc Nha làm Tể Tướng. Bào Thúc đã giới thiệu và nhường chức vụ đó cho Quản Trọng. Hai người cùng nhau phò Tề Hoàn Công trước sau như một. Quản Trọng đã có câu nói như sau : Ta từng ba lần ra trận, ba lần thua chạy trước, Bào Thúc chẳng cho là ta nhát gan, vì biết ta còn mẹ già; Ta từng ba lần xin ra làm quan đều bị từ chối, Bào Thúc không cho là ta bất tài, vì biết ta chưa gặp thời; Ta từng cùng Bào Thúc đi buôn và luôn chia phần lãi nhiều hơn, Bào Thúc chẳng cho là ta tham, vì biết ta nghèo. Sanh ra ta là cha mẹ, còn hiểu được ta là chỉ có Bào Thúc mà thôi!

Từ xưa đến nay hễ nhắc đến bạn bè TRI KỶ kết giao, là người ta nhớ ngay đến QUẢN BÀO CHI GIAO 管鲍之交, là sự kết giao giữa Quản Trọng và Bào Thúc Nha. Hôm nay ta cũng nói đến hai người bạn tình cờ gặp gỡ, rồi cùng kết giao huynh đệ và cùng chết để bảo vệ cho nhau, lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Đó là tình bạn kết giao sinh tử giữa TẢ BÁ ĐÀO 左伯桃 và DƯƠNG GIỐC AI 羊角哀 như sau :

Theo "Quyển thứ 7 của Dụ Thế Minh Ngôn 喻世明言·第七卷" truyện "Dương Giốc Ai xả mệnh toàn giao 羊角哀捨命全交" của Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời Minh. 
Truyện kể...
       Vua nước Sở là Sở Nguyên Vương 楚元王 rất sùng Nho trọng Đạo, chiêu hiền đãi sĩ. Người trong thiên hạ nghe tiếng tìm đến rất đông.
      Thuở ấy, tại núi Tích Thạch xứ Tây Khương có một hiền sĩ họ Tả 左 tên Bá Đào 伯桃, cha mẹ đều mất sớm, nhưng có chí học hành, sớm trở thành người có tài an bang tế thế. Nghe tiếng Sở Vương cầu hiền bèn khăn gói từ biệt hương thân lên đường tìm đến nước Sở. 
      Một hôm vừa đến đất Ung Châu khi trời đã vào đông, gió bấc mưa phùng trời mây u ám gió lạnh căm căm. Tả Bá Đào đội mưa đi suốt một ngày, khi thấy trời đã hoàng hôn, định tìm nơi nghỉ trọ qua đêm. Nhìn ra phía trước mặt trong rừng trúc xa xa thấy có ánh đèn nhấp nháy, bèn lần mò tìm đến căn nhà cỏ sau hàng rào tre xiêu vẹo. Một người thanh niên cường tráng, mày thanh mắt sáng, ra mở cửa mời vào. Sau khi hàn huyên tâm sự thì biết người thanh niên đó họ Dương 羊 tên Giốc Ai 角哀 cũng mồ côi từ nhỏ. Thấy bàn tủ trong nhà chứa toàn là sách, cả trên giường ngủ cũng đều có sách vở ngổn ngang. Đồng thanh tương ứng hai người cùng đàm đạo trao đổi nhau càng thấy tâm đầu ý hợp. Vốn định chỉ ở trọ qua đêm không ngờ nấn ná đến ba ngày. Vì mến tài nhau nên cùng nhau kết nghĩa kim bằng. Tả lớn hơn Dương 5 tuổi nên làm anh, Dương kính Tả như là một huynh trưởng, Đoạn 2 anh em rủ nhau cùng lên kinh đô nước Sở để tìm chữ công danh.
       Dọc đường, đang lúc trọng đông, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt, mưa tuyết bảo bùng mà phải băng rừng vượt núi. Tả Bá Đào càng ngày càng kiệt sức, tự biết sức mình khó lòng vượt qua được đoạn đường dài gian nan hiểm trở nầy, hơn nữa cũng tự biết rằng tài học vấn của mình không sao bằng được Dương Giốc Ai và điều quan trọng nhất là lương thực mang theo chỉ còn đủ dùng cho một người khỏe mạnh cố gắng vượt qua đoạn đường hiểm trở lạnh lẽo nầy, nếu nấn ná cho cả 2 người thì có nguy cơ cả 2 đều phải chết lạnh chết đói trong vùng rừng núi mịt mùng gió tuyết nầy. Nên, Tả quyết định hi sinh bản thân mình mà thành toàn cho người em kết nghĩa hoàn thành tâm nguyện thi thố tài năng để cầu chút công danh.
        Thừa lúc Dương đi tìm củi sưởi ấm trong cơn bão tuyết, Tả bèn cởi hết quần áo ra, nhường áo để Dương mặc thêm cho đủ ấm. Khi Dương về đến thì Tả mới thều thào nói cho người em kết nghĩa biết Ý định của mình và khuyên Dương hãy tranh thủ lên đường, khi nào cầu được công danh hãy trở lại an táng cho mình, nói xong thì tắt thở. Dương đành phải gạt lệ lên đường. Người đời sau có thơ khen Tả Bá Đào như sau :
         寒來雪三尺, Hàn lai tuyết tam xích,
            人去途千里。 Nhân khứ đồ thiên lý.
            長途苦雪寒, Trường đồ khổ tuyết hàn,
            何況囊無米? Hà huống nang vô mễ ?
            並糧一人生, Tịnh lương nhất nhân sinh,
            同行兩人死; Đồng hành lưỡng nhân tử.
            兩死誠何益? Lưỡng tử thành hà ích ?
            一生尚有恃。 Nhất sinh thượng hữu thị.
            賢哉左伯桃! Hiền tai Tả Bá Đào !
            隕命成人美。 Vẫn mệnh thành nhân mỹ
Có nghĩa:

                  Trời đông ba thước tuyết rơi,
                  Người đi ngàn dặm ngược xuôi chập chùng.
                  Đường dài trước mặt mông lung,
                  Trong nang gạo chỉ đủ dùng một thôi.
                  Huống chi mình đến hai người,
                  Cùng đi thì chết cả đôi ích gì ?
                  Một người sống còn có khi...
                  Bá Đào hiền sĩ chết vì bạn thân,
                  Thương thay lặng lẽ âm thầm,
                  Chết vì tri kỷ muôn phần đẹp thay !

Khi đến nước Sở nhờ có Thượng Đại Phu Bùi Trọng 裴仲 tiến cử, sau khi đã thử tài của Dương Giốc Ai, nên mới sớm được yết kiến Sở Vương và sau khi ứng đối lưu loát những vấn đề của Sở Vương nêu ra, Dương còn dâng lên 10 sách lược rất thiết thực để làm cho nước Sở phú cường. Nhà vua tỏ ra rất vui mừng, bày ngự yến thết đãi rồi phong Dương  Giốc Ai làm chức Trung Đại Phu. Dương khóc và kể lại chuyện Tả Bá Đào đã hy sinh ở giữa đường để cho mình đi lập công danh. Sở Vương nghe xong rất cảm động và thương tình cũng truy phong cho Tả Bá Đào làm Trung Đại Phu và cho Dương Giốc Ai dắt đoàn tùy tùng đi cải táng cho Tả Bá Đào.                                                                 
     Truyện được kết thúc bằng cách cho Dương Giốc Ai tự sát sau khi nằm chiêm bao thấy Tả Bá Đào về cho biết là mình bị Kinh Kha của ngôi mộ kế bên đến ức hiếp. Chết để cùng với Tả Bá Đào chống lại Kinh Kha và Cao Tiệm Ly. Truyện có vẻ hoang đường, nhưng kết thúc như thế cho trọn nghĩa kim bằng của tình anh em TRI KỶ : Sống chết đều có nhau !
      Tùy tùng về báo lại với Sở Nguyên Vương, Vương thương cho cái nghĩa khí của tình anh em kết bái mà truy phong cho cả hai thành Thượng Đại Phu và cho lập miếu tế tự với sắc ban bốn chữ "TRUNG NGHĨA CHI TỪ 忠義之祠", là Từ miếu thờ người Trung Nghĩa.
     Sau Quản Trọng và Bào Thúc Nha thì đây cũng là một cặp TRI KỶ nổi tiếng trong văn học dân gian Trung Hoa xưa. Người đời sau có thơ tán dương như sau : 

                古來仁義包天地,  Cổ lai nhân nghĩa bao thiên địa,
               只在人心方寸間。  Chỉ tại nhân tâm phương thốn gian.
               二士廟前秋日淨,  Nhị sĩ miếu tiền thu nhật tịnh,
               英魂常伴月光寒。  Anh hồn thường bạn nguyệt quang hàn.
     Có nghĩa :
                   Xưa nay nhân nghĩa trùm trời đất,
                   Chỉ tại lòng người tấc dạ thôi.
                   Nghĩa sĩ đệ huynh còn trước miếu,
                   Hương hồn còn mãi ánh trăng trôi !

Đỗ Chiêu Đức

Tuyển tập truyện ngắn -

Phạm Duy - Tinh thần hỉ xả

Ngày 27 tháng 01 năm 2024 là ngày qua đời lần thứ 11 của nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi xin trích Lời Kết và bài Hương Ca trong tuyển tập truyện ngắn PHẠM DUY TINH THẦN HỶ XẢ để tưởng niệm nhạc sĩ Phạm Duy, cây đại thụ của nền âm nhạc đất nước...


Link: 

1/24/24

Vũ điệu Ba Tây - Capoeira

Capoeira là một môn võ thuật xuất phát từ Brasil, có nguồn gốc châu Phi, được các nô lệ người da đen bí mật du nhập và truyền bá, ngụy trang thành những vũ điệu trong những nghi lễ tôn giáo. Cái tên Capoeira do người da đỏ ở Brasil đặt. Nó có nghĩa là "trảng bụi mọc lại sau khi bị cắt", đó cũng là nơi người da đen tới sinh hoạt. Ở Brasil có các cuộc thi đấu giữa những hội Capoeira khác nhau.

Capoeira vốn có một hiệu lực về mặt chiến đấu đến đáng sợ. Đó là một nghệ thuật tập hợp nhiều nghệ thuật khác. Nó là thứ trò chơi nhào lộn, vừa là âm nhạc, vừa là thơ ca. Từ đó người ta sáng tác ra các bài hát, chế tạo ra các nhạc cụ, cùng khai phá những phương pháp chiến đấu độc đáo. Có thể nói Capoeira ngày nay có một sức hấp dẫn lạ lùng, nó đã đi chu du khắp thế giới, chinh phục mọi tầng lớp xã hội. Từ bình dân tới thượng lưu đều say mê luyện tập. Ở một số vùng, nhất là ở châu Mỹ La Tinh.

Giống như các môn võ thuật khác, Capoeira cũng có các cấp đai. Đai ở đây là những sợi dây mảnh bện lại, màu đỏ là đai cao nhất và chỉ người thầy mới có quyền đeo. Mỗi nhóm có màu đai và cấp bậc khác nhau tùy theo yêu cầu và luật của nhóm đó. Mỗi năm người ta làm lễ phong đai một lần gọi là Batizado. Chỉ có đai Mestre mới được trao đai cho học sinh. Tính kỉ luật của Capoeira rất cao như các môn khác. Capoeira là một môn võ mà có thể luyện tập và học hỏi không ngừng. Một Capoeirist mới nhập môn phải thực hiện bài đầu tiên trước mọi người. Trong buổi lễ nhập môn này nhiều bậc thầy tới dự và người mới nhập môn sẽ "đấu" với một trong số họ. Để nhận ân huệ và được phong biệt danh, người đấu phải thực hiện thành công đòn dencao, tức đòn chân đẩy đối phương bật ra sau. Nếu mông đối phương chạm đất thì coi như anh ta thắng và trở thành Capoeirist.

Capoeira ngày xưa là môn võ giết chóc đáng sợ do bản năng sinh tồn của các nô lệ.Ngày nay, bản tính nhân đạo của võ thuật đã làm Capoeira bỏ đi những đòn hiểm ác để Capoeira gần gũi và xóa bỏ bức màn ngăn cách giữ các con người,.vulcan.

Theo: Wikipedia


Xem Video:

1/22/24

TẾT ĐẾN GIỮA MÙA ĐÔNG

 Hoàng Ngọc Nguyên


    Bây giờ đã là giữa tháng một, hai tuần sau khi chúng ta đón Tết dương lịch 2024 trên đất khách quê người. Và nay năm ta sắp hết, Tết ta sắp đến. Nhớ một thời mấy chục năm trước, còn sống trên quê nhà, khi Tết đến còn ông bà, còn cha mẹ, còn bà con, còn bạn bè, còn láng giềng, ta chỉ nhìn quãng đường dài trước mắt đến mức tưởng như không có ý niệm về thời gian. Nay thì quãng đường dài đó đã để lại sau lưng. Bao nhiêu chặng đường đã đi qua may lắm chỉ lãng đãng trong tâm trí: những năm tiểu học từ Huế vào Cầu Kho-Saigon lên Dalat rồi trở lại Tân Định-Saigon; thời trung học vất vả từ Tân Định (Trần Lục) lên Chợ Lớn (Chu Văn An), rồi đại học bon chen và thư nhàn từ trong nước ra nước ngoài; ngày tháng tại quân trường Thủ Đức và lăn lộn giữa nghiệp dĩ ngồi máy (viết báo) và công chức… Rồi cuối cùng cũng phải đi “học tập cải tạo” như mọi người để “sáng mắt sáng lòng”...

    Trước mắt hiện nay chỉ là chuyện sống qua ngày với ý thức rất rõ về qui luật của muôn đời sinh lão bệnh tử, may mà bên cạnh còn người phối ngẫu đã cùng nhau đỡ đần qua lại hơn 50 năm, còn con cái để bận tâm và mong đợi, còn cháu nội ngoại để vui vầy cho dù chẳng đứa nào nói dễ nghe, dễ hiểu vì chẳng đứa nào nói “tiếng nước tôi”.

Và trong lòng của những người đã từng sống tại Miền Nam quê hương trước đây trong một thời chưa mất nước, đương nhiên vẫn nổi lên một nỗi ngậm ngùi, bâng khuâng đến như dằn vặt, nhất là với tách cà phê có tô đậm dòng chữ: “The older I get, the better I used to be” – cho dù không có điếu thuốc trên môi (Nếu còn điếu thuốc trên môi có lẽ không còn ngồi đây nữa). Cuộc chiến tranh thuở xưa vẫn còn trĩu nặng trong tâm trí, vì đó là cuộc chiến làm ta mất nước, một cuộc chiến đã làm cho khoảng 250.000 lính Cộng Hòa bỏ mình trên chiến trường, gần 60.000 lính Mỹ cũng thiệt mạng, khoảng 200.000-300.000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải đi cải tạo, khoảng 200.000-400.000 người Miền Nam đã chết trên đường vượt biên… Cộng Sản Miền Bắc thí đến hơn 1 triệu thanh niên cho tham vọng “thống nhất” của chúng. Đúng ra, người ta đã thí đến 15 năm mà người dân hai miền thay vì phải dồn sức vào thoát cảnh đói nghèo lại phài thí sinh mạng cho tham vọng ngông cuồng của CS Bắc Việt. 

Đất Mỹ đúng là chốn dung thân của bao nhiêu người trên trái đất này. Theo thống kê gần đây nhất, đến 13.6% dân số Mỹ là di dân (theo nghĩa sinh ở nước ngoài) – gấp đôi dân số nhập tịch theo thời gian (naturalization). Cứ nhìn tình cảnh thường trực của cả hàng chục ngàn người ở hai bên bức tường “giả tạo” ngăn cách hai nước Mỹ-Mễ. Thời xưa, bức tường Bá-Linh của Cộng Sản Đức người ta còn không sợ. Huống gì bức tường ở El Paso chỉ làm người ta nhớ đến bài hát của Marty Robbins nhiều hơn. Nhiều người đang sống trên đất Mỹ đã bắt chước tướng Trần Bình Trọng của đời nhà Trần Việt Nam thời xưa (Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc) khẳng khái nói: “Thà làm di dân lậu một nước độc lập tự do, còn hơn làm công dân một nước của tập đoàn lãnh đạo theo văn hóa tội ác!” Dưới thời Tổng thống Biden, đã có gần 2 triệu người Mễ tràn vào Mỹ làm cho người Cộng Hòa phát điên. Phiếu của cử tri Latino ở đâu chưa thấy, xem chừng Biden sẽ mất một số phiếu của người da trắng chống di dân!

Đặc biệt những người Việt phải bỏ nước ra đi sau năm 1975 nay đã đưa con số người Mỹ gốc Việt lên đến 2.2 triệu người – dĩ nhiên kể cả những người vốn có cuộc sống quá dư giả tại VN nhờ được chế độ ưu đãi nên cũng bon chen lợi dụng qua Mỹ để tìm “đất sống” lâu dài. “Cộng đồng” người Việt tại Mỹ nay được xếp hạng thứ tư về mặt dân số Mỹ gốc Á tại Hoa Kỳ, chỉ thua dân Tàu (người Tàu từ Trung Cộng ngày nay quá giàu, không qua Mỹ, thì sống ở đâu?), người Ấn (cứ nhìn bà Nikki Haley hay Phó Tổng thống Kamala Harris hay ứng cử viên tổng thống Vivek Ramaswamy - dân Ấn quá khôn sau gần 9 thập niên được nuôi dưỡng dưới chế độ thuộc địa của Vương quốc Anh 1858-1947) và người Phi (Philippines vốn là thuộc địa của Hoa Kỳ từ 1898 cho đến 1946 sau khi bị Tây Ban Nha cai trị cũng cả nửa thế kỷ). Sự thực thì người Việt chúng ta thua kém cả người Hoa và người Ấn về “thế”. Một phần bởi vì chúng ta “quá mới”, và những người đầu tiên qua đây bằng ghe thuyền! 

Đã gần 50 năm từ ngày chúng ta mất nước. Tất cả như là một giấc mơ, cho dù là ác mộng có thật. Những thế hệ sau này cùng lắm thì biết cái gốc Việt của cha mẹ và ông bà, nhưng chưa chắc đã hiểu được vì sao “ai mang tôi đến chốn này”. Cũng có thể giới trẻ hiểu loáng thoáng người Việt qua đây vì khó sống dưới chế độ cộng sản, nhưng chẳng thể hiểu được vì sao lại không sống nổi dưới chế độ đó.  Tuy nhiên, thế hệ cao niên khó mà nói hết, nói đúng cuộc sống trước đây đã đẹp đến thế nào, cho dù về mặt vật chất thì có thể không đầy đủ như hiện nay (Bởi thế mới có câu: Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc - biết đủ là đủ). Và ba ngày Tết là một truyền thống xã hội, truyền thống gia đình trang trọng nhất, cần thiết nhất trong năm, là cơ hội độc đáo nhất cho gia đình, cho xã hội… thể hiện được nếp sống văn minh về tín ngưỡng có tính Khổng giáo.

Cuộc chiến chống sự xâm lăng của cộng sản Hà Nội kéo dài cả 15 năm, và trong 15 năm chiến tranh căng thẳng đó, chúng ta ở Miền Nam vẫn giữ được truyền thống “ăn Tết” đẹp đẽ đó. Chỉ có vài năm phải ngưng chuyện đốt pháo để ngăn ngừa sự phá hoại, khủng bố của kẻ thù. Tuy nhiên, trong thời tiết chỉ hơi se lạnh của một mùa xuân mới khi mùa đông đã qua, hầu hết mọi gia đình, hầu hết mọi người đều ra sức thể hiện niềm vui, niềm hạnh phúc gia đình, cá nhân khi Tết đến. Đó là dịp để nhớ đến tiền nhân, những người đã khuất. Dịp thể hiện hạnh phúc thương yêu của gia đình, ông bà, cha mẹ đối với con cháu và ngược lại. Đó là dịp thể hiện những nỗ lực “đổi mới”, sự mong đợi thời vận mới… qua những việc như sửa sang, lau chùi, quét dọn nhà cửa, trang phục mới, cách nói năng, giao tiếp giữ gìn, lịch thiệp, ý tứ. Và đương nhiên, đó là dịp vui chơi lớn nhất trong  năm của trẻ con, qua tiền lì xì, đốt pháo, chưng diện áo quần mới, và tụ họp gia đình…

Nếu nhìn lại gần nửa thế kỷ qua, kể từ khi Cộng Sản Hà Nội cho quân “tiến về Saigon, ta quét sạch giặc thù” (cái ý chí này cho thấy bản chất thực sự của Hà Nội xâm lược), cái Tết ngày xưa đã không còn nữa không chỉ đối với những người phải sống tha hương, mà còn đối với nhiều người ở Miền Nam đang cảm thấy sự mất mát trong cuộc sống mới với triết lý chính trị và xã hội hủ lậu của giới cầm quyền. Và chúng ta không tránh được chuyện nêu lên những câu hỏi về nước Mỹ, người Mỹ - để thấy rằng hiểu được nước Mỹ, hiểu được người Mỹ, không phải là chuyện dễ dàng. Và chưa hiểu đủ người Mỹ nước Mỹ thì ta chưa hiểu được vì sao Mỹ đã đành đoạn bỏ rơi 20 triệu người Miền Nam nửa thế kỷ trước đây.

Bao giờ chúng ta cũng nên nhớ rằng nước Mỹ chưa đến 250 tuổi, cũng như một người trẻ đôi mươi, chưa đủ trưởng thành; háo thắng nhìn đời, nhưng vẫn có những vụng dại, bất định, bất ổn, mâu thuẫn trong trong cách xác định những giá trị để nhìn mình, nhìn đời. Nhưng tuổi trẻ một phần cũng là tuổi của hy vọng, lý tưởng, lạc quan, và tự hào. Bởi thế mà một nước Mỹ từng giàu có vô song và sáng rực trong lý tưởng dân chủ, tự do cho con người trong một thế giới trật tự đảo điên và hướng đi mù mịt đã trở thành nước lãnh đạo Thế giới Tự do của gần nửa thế kỷ.

Miền Nam của chúng ta từng là nạn nhân của một nước Mỹ như thế. Một nước Mỹ có tầm nhìn nhưng thiếu sách lược; lãnh đạo chỉ nhìn gần, không dám nhìn xa; người dân lớp trên quá cá nhân chủ nghĩa, phần lớn chỉ tìm kiếm sự hưởng thụ cho nên thiếu ý thức về giá trị và mục tiêu quốc gia, về quyền lợi và nghĩa vụ, cho nên nước Mỹ mất hướng, lạc lối, không hành động thỏa đáng trong bài toán Việt Nam. 

Hơn 20 triệu dân miền nam vì thế lãnh đủ. Lãnh đạo Miền Nam thì bao giờ cũng quá “thật thà”, như người dân ở một vùng quê hẻo lánh bị bao bọc bởi những lũy tre xanh và nằm mơ là chóa mắt vì “ánh sáng đô thị”. Tính từ 1954 (tức 70 năm trước đây) 1964 (cách đây 60 năm) và cuối cùng là 1975 (cách đây gần 50 năm), chính quyền Miền Nam vẫn nhìn đồng minh của mình một cách loạn thị, cho dù có dư người đi làm ngoại giao ở Washington, D.C., và càng dư người đi học ở Mỹ hay làm cho Mỹ (kể cả những người làm cho CIA). Ít người trong chúng ta thời đó chịu hiểu Tổng thống John Kennedy còn một gánh nặng “Biên cương mới”. Tổng thống Lyndon Johnson thì mắc vào lời hứa “Đại xã hội”. Và ông Richard Nixon thì phải “Việt Nam hóa chiến tranh”. Sau vụ Mậu Thân, người Mỹ phát ngấy với chuyên mở máy truyền hình ra là thấy đập ngay vào mắt cuộc chiến ở cái vùng tiền đồn mà nay họ cho rằng vô nghĩa, bỏ là vừa! 

Nguyền rủa bóng tối của quá khứ mãi cũng chán, chúng ta cũng chẳng điên rồ ước gì có thể “làm lại từ đầu”. Giá mà thời đó chúng ta có thể hiểu được nước Mỹ hơn, nhìn được nước Mỹ rõ hơn, đầy đủ hơn - chẳng những mặt phải mà cả mặt trái của nó!  

Tết năm nay xem chừng lại rơi vào mùa đông, nhưng không chỉ vì mùa đông mà chúng ta quên rằng Tết sắp đến. Chúng ta vẫn đón tết theo cách của mình, từ đáy lòng của mình. Mở rộng cánh cửa, mở rộng con tim đón chờ con cháu đến chúc Tết với chút tiền lì xì trong túi; thăm viếng bạn bè, bà con… chẳng có và chẳng còn bao nhiêu người trong thành phố này (số người nằm xuống cứ tăng đều trong khi số người có thể đến ngày càng ít đi); đến với chùa hay nhà thờ trong địa phương để có dịp củng cố niềm tin của mình… 

Và tạm xem là cuối cùng, nhớ lại những bài hát một thời đã đem đến cho chúng ta những niềm tin, hạnh phúc, yêu đời đối với cuộc sống. Tuy chúng ta không còn giọng, không còn sức để hát, ai cấm được chúng ta nhẫm hát trong đầu hay trong giấc ngủ?

Như bài Đón Xuân của Phạm Duy là cây cổ thụ của làng âm nhạc Việt Nam:

Xuân đã đến rồi, gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời
Vui trong bình minh, muôn loài chim hót vang mọi nơi
Đẹp trong tiếng cười, cho kiếp người tình thương đắm đuối
Nắng xuân đem vui với đời

Hay Xuân Đã Về của nhạc sĩ Minh Kỳ, một nhạc sĩ hiền hòa nhưng lại phải đi cải tạo:

Xuân đã về, xuân đã về!
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Xuân đã về, trên cánh đồng,
Bao bác nông ngưng cày ruộng vui say xuân
Xuân đã về, xuân đã về!
Ngàn cô gái quê cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về!
Ta hát vang chào mừng xuân sang… 

Hoa Xuân cũng của Phạm Duy, nói lên cái đẹp của mùa xuân không chịu ảnh hưởng chút nào của mùa đông trước đó:

Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn

Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cày trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ nghìn nơi
Thấy hoa tươi cười bỗng thương đời

Một bài hát từ đầu thập niên 60 của nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thơ của Kim Tuấn, âm điệu và lời lẽ nhẹ nhàng, lãng mạn, dễ quyện lấy tâm hồn giới trẻ vào thời đó: Anh cho Em Mùa Xuân!

Anh cho em mùa xuân
Nụ hoa vàng mới nở
Chiều đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy
Chân bước mòn hè phố
Mắt buồn vịn ngọn cây

Xuân Tha Hương của Phạm Đình Chương là một bài hát day dứt, ám ảnh tâm trí của tất cả chúng ta:

Ngày xưa xuân thắm quê tôi bao nhánh hoa đời đẹp tươi
Mẹ tôi sai uốn cây cành, vun tưới hoa mùa xinh xinh
Thời gian nay quá xa xăm, tôi đã xa nhà đầm ấm
Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm

Và tạm xem là cuối cùng, không thể thiếu được Ly Rượu Mừng cũng của người nhạc sĩ Hội Trùng Dương, nói lên tinh thần lạc quan, nhân bản, hòa đồng của con người sống trong một xã hội ai cũng mang niềm hy vọng vươn lên:

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó

Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Muôn lòng xao xuyến duyên đời...

Khi nghe những bài nhạc xưa của một thời đó, chúng ta mới thấm được những mất mát to lớn không gì lấy lại được để có hạnh phúc đích thực!