1/25/23

Phiếm luận về Mẹ

  Mẹ 

Mấy hôm trước, nhân anh LN Minh chia sẻ bài thơ về “Mẹ”, làm trỗi dậy cảm xúc lâu nay nằm sâu trong đáy lòng.


Mẹ Ta Trả nhớ về Không

“Ngày xưa chào mẹ ta đi
Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười
Mười năm rồi lại thêm mười
Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không
Ông ai thế? Tôi chào ông
Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi
Ông có gặp thằng con tôi
Hao hao...tôi nhớ nó... người... như ông.
Mẹ ta trả nhớ về không
Trả trăm năm lại bụi hồng... rồi đi…”

Khi tôi viết những dòng chữ này thì Mẹ tôi đã quy tiên gần 40 năm rồi. Mỗi năm khi gió bắc mưa lạnh bao phủ lên cảnh vật, cũng là lúc người người rộn rịp chuẩn bị cho mấy ngày lễ cuối năm đoàn tụ gia đình. Tôi lại ngậm ngùi nhớ đến Mẹ tôi, người Mẹ đã suốt đời lam lũ, tần tảo nuôi con. Những dòng chữ rất riêng tư này, tôi nghĩ rằng sẽ được nhiều bạn thông cảm lượng thứ. Thiết nghĩ mọi người hẳn có cùng tâm sự như tôi, tâm sự của đứa con vì tự do cơm áo phải phiêu bạt rong ruổi tha phương, cứ đến mùa đông hiu hắt lại ngậm ngùi nhớ về người Mẹ ở phương trời khác xa tít mịt mù.

Tất cả những ai khi mái tóc đã điểm sương mà vẫn còn có được người Mẹ để thương yêu phụng thờ thì thử hỏi có hạnh phúc nào lớn hơn thế nữa?

Ngày đi học, nghe thầy cô giáo giảng về sự tích của Địch Nhân Kiệt (狄仁杰) thời Đường, có ai trong thế hệ chúng tôi lại không rưng rưng cảm động? Địch Nhân Kiệt từng giữ chức tể tướng thời nữ hoàng Võ Tắc Thiên trị vị. Trong những năm đầu làm quan, lúc nhiệm chức tại Tĩnh Châu, Cha Mẹ thì ở Hà Dương, cách Tĩnh Châu mấy ngày đường. Một hôm lên núi Thái Hàng, nhìn đám mây trắng bềnh bồng nơi hướng quê nhà, ông bùi ngùi thốt lên: “Ngô thân xá kỳ hạ” (吾親舍其下) “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng đó”. Ông đứng nhìn ngậm ngùi khá lâu, đợi đám mây bay khuất rồi mới bồi hồi quay về.

Câu chuyện chỉ đơn giản có thế, mà được người xưa trân trọng nâng lên và trở thành một điển tích trong văn học Trung Quốc, đủ thấy tâm hồn của người xưa đôn hậu biết bao. Với nền văn minh và khoa học tân tiến hiện đại khiến không gian như thu hẹp lại, nhưng khoảng cách của lòng người lại dần thêm xa cách và lạnh nhạt, không mấy ai còn rung động bởi những câu chuyện bình dị như trên. Chữ “Hiếu” dường như đã dần trở thành “xa xỉ phẩm” trong một xã hội mà mọi quan hệ đều bị cuốn vào cơn lốc của Danh Lợi và lòng vị kỷ. Người ta quên mất rằng một xã hội mà chữ Hiếu được coi trọng mới là một xã hội thật sự thanh bình lành mạnh, vì đạo Hiếu là nền tảng của đạo Nhân.

Khi còn bé, vì ham chơi và tính nghịch ngợm của trẻ con, tôi thường được dạy dỗ bởi những trận đòn roi của nghiêm phụ, mong cho con cái trưởng thành. Mỗi lần như vậy, mẹ tôi không can gián được, xót ruột quay mặt đi mà đầm đìa nước mắt. Mẹ khóc tôi cũng khóc theo, tôi khóc vì bị đòn roi thì ít, mà đa phần vì đã làm tổn thương Mẹ hiền. Lớn lên, tôi mới thấu hiểu rằng những giọt nước mắt lặng lẽ của Mẹ hiền còn khiến những đứa con nghịch ngợm lo sợ hơn những trận đòn roi và chính cái tình thương lặng lẽ ấy đã thức tỉnh bao con thơ hồi đầu quy chánh.

Tôi thường nghe câu nói được lưu truyền trong dân gian: “Ai còn Mẹ xin chớ làm Mẹ khóc”. Câu nói đơn sơ nhưng gói trọn ý nghĩa thâm sâu của lẽ hiếu đạo. Những người dân quê chân chất ít học hồi xưa sao lại hiểu cái đạo lý “ hiểu thảo” dễ dàng bằng những câu nói bình dị mà thiết tha đến thế? Giờ nay nước mắt trận đòn roi đã cạn, nhưng những giọt lệ vẫn cứ tuôn ra vì những vết roi đời khắc nghiệt đắng cay trong cuộc sống thăng trầm ngược xuôi nơi đất khách quê người.

Mỗi năm cứ đến mùa lễ Vu Lan, tăng ni Phật tử trong các chùa tụng kinh báo hiếu; hội từ thiện "Tzu Chi" cho diễn lại các vở ca kịch mang nặng ý nghĩa hiếu ân với mục đích hoằng dương hiếu đạo và tưởng nhớ công ơn của bậc sinh thành. Truyền thuyết Bồ Tát Mục Kiền Liên xuống địa ngục cứu Mẹ có thể chỉ là hư cấu, nhưng tấm lòng hiếu thảo của Bồ Tát Mục Kiền Liên gây chấn động cả chư Phật mười phương lại là điều tất nhiên, bình dị và dễ hiểu.

Sở dĩ đạo Phật được lưu truyền mấy ngàn năm là vì ngoài mục đích cứu nhân độ thế, đạo Phật còn luôn nhắc nhở con người không được quên đạo làm con, làm người.

Rồi sau này, khi đọc "Nhị thập tứ hiếu" (二十四孝) của Quách Cư Nghiệp, tôi càng cảm phục trước tấm gương của những người con hiếu thảo trong sách. Đó là những câu chuyện mà cứ mỗi lần nhớ đến, tôi đều xúc động nghẹn ngào. Tôi thầm nhủ với lòng mình rằng, nếu một ngày nào đó, bản thân có quên đi tất cả mọi chuyện trên đời, thì cũng sẽ không dám quên công ơn dưỡng dục bằng trời của cha mẹ.

Lòng Mẹ thương con biển hồ lai láng. Chỉ có những ai đã từng đứng trước biển cả bao la mà dụng tâm suy ngẫm mới hiểu được tại sao người ta lại ví lòng thương yêu của người Mẹ với biển hồ mênh mông. Biển dung nạp được tất cả mọi thứ nhơ bẩn trên cõi đời, mà muôn đời biển vẫn trong xanh. Mẹ chịu đựng tất cả những điều nghiệt ngã nhất trên đời này, mà lòng Mẹ vẫn hân hoan, bao dung độ lượng. Những đứa con thành đạt hay hư đốn Mẹ đều một mực thương yêu với cái tâm vô sai biệt. Cũng như tất cả chúng sinh đều bình đẳng trước Tam Bảo, tất cả những người con đều bình đẳng trước trái tim từ ái quảng đại của Mẹ hiền.

Trong giáo lý nhà Phật, “quy luật nhân quả” là quy luật bất di bất dịch của tất cả mọi sự vật trong vũ trụ. Ngày nay, nền văn minh khoa học tiến bộ, người ta thường dương dương tự đắc với tài năng tri thức của mình mà quên mất cái "quả" có từ cái "nhân". Khi thấy một vườn cây đầy những loài cây trái xum xuê nặng trĩu quả ngọt, người ta thường chỉ trầm trồ ca ngợi công sức của người làm vườn, mà quên mất rằng tất cả những trái cây tươi tốt trong khu vườn ấy phần lớn đều lấy chất dinh dưỡng từ lòng đất. Lòng đất đó chính là “phúc đức tại phụ mẫu tổ tiên”. Chúng ta thường vô tình để cuộc sống hạnh phúc riêng của mình che khuất mất hình ảnh cội nguồn của Mẹ, của Cha. Nếu không ý thức được điều này, thì những câu ca dao "Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" bỗng trở thành những tiếng kêu thương lạc điệu.

Ngôn ngữ là công cụ tư duy của con người, cũng là hiện tượng của nền văn hóa tinh thần. Văn tự của mỗi quốc gia tuy khác nhau, nhưng có điều kỳ diệu là rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới tiếng “Mẹ” đều bắt đầu bằng phụ âm “M” rất tương đồng: Mutter trong tiếng Đức, Mère trong tiếng Pháp, Mother trong tiếng Anh, Mẫu/Má trong tiếng Hán, Mẹ trong tiếng Việt. Có phải chăng Thượng Đế đã tạo lập tiếng nói đầu đời "ma... ma..." qua cửa miệng mọi trẻ sơ sinh trên đời, Mẹ là âm thiêng liêng nhất trong thế giới âm thanh của loài người.

Thi ca nhân loại khắp Đông Tây kim cổ đã nói rất nhiều về người Mẹ. Nhưng nói mãi mà sao vẫn chưa nói hết được những gì muốn nói, vẫn luôn còn một cái gì đó về Mẹ mà không sao nói cho hết được. Người Ấn Độ có một câu ngạn ngữ tuyệt vời : “Thượng Đế không thể hóa thân khắp nơi, nên Ngài phải tạo ra mẫu người Mẹ để thay thế cho Ngài”. Câu nói đơn giản đó có lẽ đã hàm chứa tất cả hình ảnh và ý nghĩa về trái tim Mẹ. Trái tim Mẹ dành cho con là trái tim của Thượng Đế dành cho nhân loại.

Mẹ tôi mất hồi thập niên tám mươi. Tấm thân tứ đại tạm mượn sáu mươi năm, đã trả về cho tứ đại. Năm đó tôi vừa hơn 30, mới vượt biên qua Mỹ bắt đầu cuộc sống mới, xứ lạ quê người khiến người khách lữ thứ tha phương cầu thực không làm tròn được hiếu đạo của phận làm con. Đến khi đời tôi tạm ổn định, tôi muốn được gần gũi Mẹ tôi để đáp đền phần nào ơn dưỡng dục cù lao thì lại không còn cơ hội. Đó là một trong những điều đau đớn day dứt nhất trong đời, mà cứ mỗi khi nghĩ đến thì ngấn lệ lại dâng trào. Tôi tự an ủi rằng mọi sự tụ tan trên đời đều do nhân duyên, tôi không có phúc phận được cận kề để chăm sóc Mẹ tôi, có lẽ vì tôi chưa hội tụ đủ Duyên lành.

Mỗi năm đến mùa Vu Lan, Phật tử thường lên chùa cài lên ngực những bông hoa màu khác nhau. Ai còn Mẹ thì cài một bông hoa đỏ lên áo; ai không còn Mẹ thì cài bông hoa trắng tinh nguyên. Bao nhiêu năm rồi, tôi chưa bao giờ có dịp được cài một đóa hoa để nói lên sự thiêng liêng của tình mẫu tử. Nhân đọc bài thơ "Mẹ ta trả nhớ về không", tôi nguyện vun bồi đóa hoa lòng luôn tươi thấm để ghi nhớ công ơn dưỡng dục và sự hy sinh của Cha Mẹ đã dành cả đời cho con cái.

Trường
01-21-2023 (ngày giao thừa Tết Quý Mão)

Từ Hi Thái Hậu vốn xuất thân trong gia đình chẳng mấy tài giỏi, tư chất của bà cũng không phải học cao hiểu rộng gì, cho nên, bà không đủ kiến thức, văn chương chữ nghĩa để làm thơ.

Từ Hi Thái Hậu làm duy nhất một bài thơ nhưng vẫn được lưu truyền.



Bài thơ Từ Hi Thái Hậu viết cho mẹ vào ngày mừng thọ lần thứ 70, tức năm 1877. Do có việc bận nên Từ Hi không thể tham dự tiệc chúc mừng. Bà đã viết một bài thơ và gửi kèm theo một số lễ vật thay cho sự vắng mặt của mình dành tặng riêng cho mẹ.






Hán - Việt:
Chúc mẫu thọ thi                                           祝母寿诗
Thế gian đa ma tình tối chân,                世間爹媽情最真,
Lệ huyết dung nhập nhi nữ thân.           淚血溶入兒女身.
Đàn kiệt tâm lực chung vị tử ,               殫竭心力終為子,
Khả liên thiên hạ phụ mẫu tâm !           可憐天下父母心!

Dịch nghĩa:
Chúc sinh nhựt mẹ
Tình yêu của cha mẹ là thứ tình cảm chân thành nhất trên thế gian
Máu và nước mắt chảy vào trong cơ thể con cái
Vắt kiệt tâm lực suốt đời vì con
Thương thay cho tấm lòng của kẻ làm cha mẹ trong thiên hạ!

So với thơ của Lý Bạch hay thơ của Càn Long đế, bài thơ của Từ Hi Thái Hậu được đánh giá là quá kém cỏi. Tuy nhiên, câu cuối cùng của bài thơ lại mang đầy ý nghĩa về tình cảm giữa bố mẹ và con cái, phù hợp với mọi thời đại. Cho nên, dù dở tệ nhưng bài thơ độc nhất cả đời Từ Hi Thái Hậu vẫn còn lưu truyền mãi đến ngày sau, đặc biệt là câu cuối cùng.
St

1/22/23

Phiếm luận · CHỮ XUÂN 春

天 有 四 時 春 在 首
 Thiên hữu tứ thời XUÂN tại thủ。

  là "Trời có bốn mùa, XUÂN là mùa đứng đầu".

XUÂN là chữ Hội Ý trong Lục Thư là một trong 6 cách hình thành chữ Nho, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

                  Giáp Cốt Văn    Kim Văn   Triện Văn    Lệ Thư       Giản Hóa Tự (Chữ Dị Thể)

Ta thấy :
Từ Giáp Cốt Văn cho đến Kim Văn, Triện Văn (gồm Đại triện và Tiểu Triện) đều là hình tượng của bộ Thảo 艸 là Cỏ ở phía trên và chữ Đồn 屯 bên dưới tượng trưng cho các mầm non của cây cỏ nức đất vươn lên, bên cạnh là hình tượng của chữ Nhật ㄖ là mặt trời là ánh nắng của mùa xuân giúp cho cỏ cây phát triển sau những ngày đông tháng giá; nên XUÂN 春 là mùa Xuân, mùa đầu tiên trong năm khi tiết trời trở lại ấm áp. Chưa có chữ NHO nào có diễn tiến phức tạp và thay đổi kiểu viết nhiều như chữ Xuân vậy. Có thể là do những ngày đông rét mướt vạn vật cỏ cây đều héo úa tàn tạ, vào xuân lại được dịp tái sinh, nên các mầm sống thi nhau phát triển, vì thế mà chữ viết cũng phát triển đa dạng theo như vạn vật đang hồi sinh chăng ?! 

XUÂN là mùa đầu tiên trong năm, nên những ngày Lễ Hội đầu năm được gọi là XUÂN TIẾT 春節, là những ngày Lễ Tết của buổi đầu xuân, nên ta còn gọi "Ba ngày Tết" là "Ba ngày Xuân". Đón Xuân là đón Tết, và "Ăn Tết" là để "Mừng Xuân". Tất cả những hoạt động của ngày Tết thường đều có chữ Xuân chen vào, như chợ bán hoa ngày Tết thì gọi là "Hội Hoa Xuân", đi dự hội ngày Tết thì gọi là "trẩy hội Xuân", đi lễ chùa ngày Tết thì gọi là đi "Lễ Xuân" như trong bản nhạc "Câu Chuyện Đầu Năm" của nhạc sĩ Hoài An :

Trên đường đi Lễ Xuân đầu năm ...

Nói theo chiết tự thì chữ XUÂN được viết theo thứ tự : Chữ Nhất 一, chữ Nhị 二 rồi chữ Tam 三, xong chồng bộ Nhân 人 lên trên và phía dưới cùng là chữ Nhật 日. Ghép tất cả các phần trên lại ta có chữ XUÂN 春. 



NHẤT là Thiên là Trời; NHỊ là Địa là Đất; TAM là NHÂN là Người, nói theo sách TAM TỰ KINH 三字經 là "TAM TÀI giả : Thiên Địa Nhân 三才者,天地人". Con Người là một thành viên hợp với Trời Đất tạo nên cái vũ trụ hỗn mang nầy, và khi mặt trời (NHẬT 日) bắt đầu ló dạng là vạn vật cũng bắt đầu phục sinh cho cuộc sống mới theo quy luật Âm Tiêu thì Dương Trưởng; đêm sẽ dần ngắn lại và ngày sẽ càng dài thêm ra; cây cỏ lá hoa đâm chồi nẩy lộc cho cuộc sống mới bắt đầu bằng màu hồng của những tia nắng xuân đầu tiên ấm áp để "Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng".

Nên từ đầu tiên ta có về mùa xuân là XUÂN QUANG 春光 là Ánh sáng ấm áp của mùa xuân mang đến vẻ đẹp đẽ rực rỡ của cỏ cây hoa lá tươi hồng, nên để chỉ mùa xuân đẹp đẽ, ta có từ XUÂN HỒNG 春紅 như trong 4 câu thơ bất hủ mở đầu bài thơ "Tình Sầu" của thi nhân Huyền Kiêu thời Tiền Chiến :

XUÂN HỒNG có chàng tới hỏi
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi tóc xoã ngang đầu
Đi hái hoa tươi ngoài nội

XUÂN HỒNG còn là sức sống và sự yêu đời như trong bài thơ nổi tiếng "Giây Phút Chạnh Lòng" của Thế Lữ :

Ta thấy XUÂN HỒNG thắm khắp nơi,
Trên đường rộn rã tiếng đua cười,
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy.
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai...

Song song với XUÂN QUANG 春光 ta còn có từ XUÂN HUY 春暉 cũng chỉ ánh nắng ấm áp của mùa xuân mang lại sức sống cho cỏ cây, được ví như là công ơn của từ mẫu như trong bài thơ Du Tử Ngâm 遊子吟 của Mạnh Giao 孟郊 đời Đường :

        慈母手中线      Từ mẫu thủ trung tuyến
   遊子身上衣      Du tử thân thượng y
            临行密密缝      Lâm hành mật mật phùng
意恐遲遲歸      Ý khủng trì trì quy
           誰言寸草心      Thùy ngôn thốn thảo tâm
            報得三春暉      Báo đắc tam XUÂN HUY
     


   Có nghĩa :
                                    Kim chỉ trên tay từ mẫu,
                                    Khâu nên áo lãng du nhân.
                                    Khi đi chắc chiu từng mũi,
                                    Sợ ngày về lắm lần khần.
                                    Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,
                                    Báo đền được nắng ba xuân ?!

          Khi quyết định bán mình chuộc tội cho cha, cụ Nguyễn Du cũng đã cho Thúy Kiều cân nhắc thân phận của mình rồi mới quyết định :

                               Hạt mưa xá nghĩ phận hèn,
                          Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân !
 
          Xuân Quang, Xuân Huy, Xuân Hồng tạo nên XUÂN SẮC 春色 là Cảnh sắc đẹp đẽ của mùa xuân với thành ngữ XUÂN SẮC MÃN NHÂN GIAN 春色滿人間 là Cảnh sắc đẹp đẽ của mùa xuân đầy rẫy cả nhân gian. Mùa xuân đẹp đẽ không là của riêng ai, nhưng khi thấy ong bướm bay qua nhà hàng xóm thì lại đâm ra nghi ngờ, như hai câu cuối trong bài Vũ Tình 雨晴 của Vương Giá 王駕 đời Vãn Đường :                                 
                           蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,
                           卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

          Hai câu thơ nầy đã được nhà thơ Tiền Chiến Jean Leiba mượn ý diễn Nôm thật hay ttong bài Mai Rụng như sau :
                                Tơi bời ong bướm bay qua ngõ,
                            Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.

XUÂN SẮC phải là cảnh sắc đẹp đẽ của thiên nhiên bao la rộng lớn khi trời đã vào xuân, chớ không phải gò bó đóng khung trong một phạm vi đẹp đẽ nhỏ hẹp nào đó, vì Xuân Sắc là Sắc đẹp của mùa xuân sẽ bức phá khỏi những phạm vi hạn hẹp như cành hoa Hồng Hạnh trong bài Du Viên Bất Trực 遊園不值 của Diệp Thiệu Ông 葉紹翁 đời Nam Tống :

春色滿園關不住, XUÂN SẮC mãn viên quan bất trụ,
一枝紅杏出牆來。 Nhất chi hồng hạnh xuất tường lai.

Có nghĩa :

XUÂN SẮC đầy vườn không giữ nổi,
Một cành hồng hạnh vượt tường ra !

Vì 2 câu thơ nầy mà hình thành một thành ngữ XUẤT TƯỜNG HỒNG HẠNH 出牆紅杏 là "Hồng Hạnh Vượt Tường" để chỉ những nàng cô phụ không giữ nổi nỗi cô đơn mà "vượt tường" đi tìm tình yêu của lòng mình đang khao khát.

******
- XUÂN THIÊN 春天 là Trời đã vào Xuân, nên có nghĩa là MÙA XUÂN. Còn...
- XUÂN NHẬT 春日 là Ngày xuân, là những ngày của mùa xuân.
- XUÂN TIÊU 春宵 là đêm xuân, là những đêm của mùa xuân. XUÂN TIÊU lại là tựa của một bài thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha 蘇東坡, một trong Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 với 2 câu thơ mở đầu bất hủ là :

春宵一刻值千金,      XUÂN TIÊU nhất khắc trị thiên kim,
  花有清香月有陰.      Hoa hữu thanh hương nguyệt hữu âm...

Có nghĩa :
Đêm xuân một khắc đáng ngàn vàng,
Hoa thoảng hương thơm trăng mơ màng...

Vốn dĩ Tô Đông Pha muốn nói rằng đêm xuân mát mẻ êm ả lại thoang thoảng mùi hương của hoa và lấp loáng mơ màng của bóng trăng chênh chếch. Đêm xuân đẹp là thế, êm đềm là thế, nên không nở đi ngủ, vì một khắc êm đẹp thoải mái của đêm xuân có giá trị đáng ngàn vàng ! Nhưng suốt cả ngàn năm nay người ta chỉ hiểu nghĩa của câu thơ với một ý khác. Cứ nghĩ đến tình yêu nồng thắm say đắm của nam nữ, của đôi vợ chồng son, của những người đang yêu nhau, của cô dâu và chú rể trong đêm tân hôn...thì "Đêm Xuân Một Khắc Giá Đáng Ngàn Vàng!" để trân trọng cái thời khắc của đêm xuân khi đôi lứa được ở bên nhau.


      - XUÂN TỬU 春酒 là Rượu uống vàp dịp Tết để mừng Xuân. Khác với...
     - XUÂN DƯỢC 春藥 là Thuốc uống để khơi dậy lòng xuân, là thuốc kích dâm.
    - XUÂN TÌNH 春情 là Tình cảm nảy nở trong mùa xuân, là tình yêu đối với mùa xuân, mà cũng là tình yêu trai gái nữa ; XUÂN TÌNH còn là tên một điệu hát cổ nhạc rất mượt mà ươt át; 
nếu đổi chữ TÌNH có bộ NHẬT 日 là Mặt Trời thì XUÂN TÌNH 春晴 là Mùa xuân nắng ráo, là Nắng đẹp mùa xuân. Trong bài thơ tứ tuyệt Trúc Chi Từ 竹枝詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường có nhắc đến 2 chữ TÌNH nêu trên một cách thật lý thú như sau :


竹枝詞 TRÚC CHI TỪ


          楊柳青青江水平,     Dương liễu thanh thanh giang thủy bình,
      聞郎江上唱歌聲。Văn lang giang thượng xướng ca thinh.
                              東邊日出西邊雨, Đông biên nhật xuất tây biên vũ,
                              道是無晴卻有晴。 Đạo thị vô tình khước hữu tình ! 
  • Ghi chú: Tình 晴 : Tình nầy là NẮNG RÁO, vì có bộ NHẬT 日 là Mặt Trời bên trái. Chữ nầy ĐỒNG ÂM với chữ Tình 情 là TÌNH CẢM, TÌNH Ý, có bộ TÂM 忄là Lòng Dạ cũng ở bên trái. Nên, HỮU TÌNH 有晴 là CÓ NẮNG, đồng âm với HỮU TÌNH 有情 là Có Tình Ý.
NGHĨA BÀI THƠ :
Dương liễu xanh xanh soi mình trên dòng nước phẳng lặng, 
ta nghe tiếng của chàng cất giọng hát trên sông. 
Mặt trời đang ló dạng ở phía đông với những tia nắng đầu ngày, 
nhưng phía bên trời tây lại đổ mưa rào, cho nên, bảo là không có nắng, 
nhưng lại có nắng, nói là không có tình, nhưng lại có tình ý thật thiết tha !

DIỄN NÔM :
Xanh xanh dương liễu soi dòng nước,
Vẳng tiếng chàng ca sóng lặng thinh.
Tây đổ mưa rào đông lại nắng,
Hữu tình người lại ngỡ vô tình !

Lục bát :
Liễu xanh xanh nước mênh mang,
Trên sông nghe vẳng tiếng chàng hát ca.
Đông nắng Tây lại mưa sa,
Bảo là vô ý thì ra hữu tình !

******
- XUÂN THỦY 春水 là Nước mùa xuân. Nước xuân trong vắt tựa ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

两臉夭桃從镜發, Lưỡng liễm yêu đào tòng kính phát,
      一眸春水照人寒。 Nhất mâu XUÂN THỦY chiếu nhân hàn.

Có nghĩa:
Má đào ửng đỏ trong gương
Một làn XUÂN THỦY vấn vương lòng người.

XUÂN THỦY là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với THU THỦY 秋水 là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều:
Làn THU THỦY, nét XUÂN SƠN,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh!

Làn THU THỦY 秋水 là làn nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người. Còn nét...

- XUÂN SƠN 春山 là Núi của mùa xuân, xanh biếc và rạng rỡ tràn đầy sức sống và gợi cảm như đôi mày liễu của giai nhân, như cụ Nguyễn Du đã tả về nhan sắc của Thúy Kiều là "Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !". XUÂN SƠN tự ngàn xưa đã được ví như là đôi mày liễu xanh mơn mởn của các giai nhân với câu nói :

眼如秋水,眉似春山。Nhỡn như thu thủy, My tự xuân sơn.

Có nghĩa :
- Mắt long lanh như nước mùa thu, Mày xanh tươi như núi mùa xuân.


- XUÂN TÂM 春心 là Lòng xuân, là tấm lòng tươi trẻ yêu đời và tràn đầy nhựa sống như mùa xuân của các cô XUÂN NỮ 春女 là các cô gái trẻ như lời bài hát Gái Xuân của Từ Vũ và Nguyễn Bính :

Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần...

Theo kinh Lễ Nhạc thì vào đời nhà Chu cứ đến tháng hai là tháng Trọng Xuân 仲春 thì cho phép cưới gả, nên các cô gái với tình xuân phơi phới cứ mong chờ cho đến tháng hai để được người mai mối đến dạm hỏi, nên gọi các cô là HOÀI XUÂN THIẾU NỮ 懷春少女, là những cô gái Hoài Xuân đang khao khát tình yêu, là những cô gái đang muốn chồng ! Trong Kinh Thi đời Tiên Tần chương Chiêu Nam 召南 có câu :

                有女懷春,         Hữu nữ HOÀI XUÂN,
 吉士誘之.         Cát sĩ dụ chi !

Có nghĩa :

Có cô con gái HOÀI XUÂN,
Các chàng xúm xít tỏ lòng ước ao !

Mùa Xuân mang lại sự sống và sức sống cho muôn loài muôn vật sau những tháng rụi tàn vì đông hàn buốt giá, nên sức sống hồi phục trở lại gọi là HỒI XUÂN 回春 để chỉ cái gì đó tưởng đã chết đi nhưng rồi sống lại đều được gọi là HỒI XUÂN kể cả tình cảm tình yêu và thể chất thể xác của con người, nên ta mới có thành ngữ Lão Giả Hồi Xuân 老者回春 để chỉ những người đã già nhưng sức sống còn mạnh mẽ như lứa tuổi thanh niên. Ta có nhóm từ "Lứa Tuổi Hồi Xuân" vừa có ý tốt vừa có ý mĩa mai để chỉ những người đã đứng tuổi nhưng còn ham muốn dục vọng và sống như lứa tuổi thanh niên...
Nhưng những ông thầy thuốc "mát tay", thầy thuốc giỏi có thể cải tử hồi sinh, cứu được người chết đi sống lại thì được xưng tụng là DIỆU THỦ HỒI XUÂN 妙手回春 là bàn tay khéo léo có thể làm cho người tưởng đã chết đi lại được sống trở lại, như Hoa Đà, Biển Thước và như Hải Thượng Lãn Ông của ta vậy.
Ngày xưa các thư sinh sau mười năm đèn sách thì chỉ còn đợi những khoa XUÂN THÍ 春試 là những khoa thi được hai triều đại Minh và Thanh mở ra cho sĩ tử ứng thí vào các mùa xuân, như Kim Trọng và Vương Quan đã cùng thi đỗ trong một khoa XUÂN THÍ, nên trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du đã viết là :

Chế khoa gặp hội tràng văn.
Vương, Kim cùng chiếm BẢNG XUÂN một ngày.

Vì khoa thi được mở vào mùa xuân, nên bảng vàng đề tên các sĩ tử thi đỗ cũng được gọi là BẢNG XUÂN chữ Nho là XUÂN BẢNG 春榜, tức là LONG HỔ BẢNG 龍虎榜đó.

Ngày xưa thi đậu gọi là Bình Bộ Thanh Vân 平步青雲, ta gọi là Nhẹ Bước Thang Mây, cụ Nguyễn Công Trứ thì tỏ ra rất đắc ý với "Đường mây rộng thênh thang cử bộ"; còn Mạnh Giao đời Đường thì gọi là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 trong bài thơ Đăng Khoa Hậu 登科后 là "Sau khi Đăng Khoa" với 2 câu cuối như sau :

      春風得意馬蹄疾,    XUÂN PHONG ĐẮC Ý mã đề tật,
   一日看盡長安花。 Nhất nhật khán tận Trường an hoa.

Có nghĩa :
Gió xuân đắc ý ngựa phi mau,
Xem hết Trường an hoa đủ màu.

Hai câu thơ trên còn để lại 2 thành ngữ cho đến hiện nay là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 để chỉ sự vui vẻ đắc ý vì một thành đạt nào đó, và TẨU MÃ KHÁN HOA 走馬看花 mà ta gọi là CỠI NGỰA XEM HOA để chỉ việc gì đó chỉ làm lấy có, làm hoa loa cho xong việc mà thôi.

Đón xuân, mừng xuân, chúc cho tất cả mọi người đều XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 và cả năm luôn luôn được MÃN DIỆN XUÂN PHONG 滿面春風 là mặt mày luôn luôn tươi vui như đang chào đón gió xuân vậy.

Đỗ Chiêu Đức - 
杜紹德

Khai Bút Đầu Năm Quý Mão: Tự Thán

 

Thân già nua lọm khọm   

Đón Tết, mưa bì bõm.

Nhấp nhỏm đứng phân vân,

Trầm ngâm ngồi cọm rọm.

Sầu xưa nhóm dập dồn,

Bệnh cũ ôm tròm trõm.

Bạn dí dỏm bông đùa,

A dua cười móm xọm.


         Trần Văn Lương

      Cali, Mùng Một Tết

          Quý Mão 2023

 

1/21/23

Chúc mừng Năm mới Quý Mão



Tết đến , Xuân về ta chúc nhau
chúc nhau tóc bạc vẫn cười lâu ,
cười lâu ...cho dù răng rụng hết
tóc bạc - hàm không ...vui với nhau!

chúc cho anh chị thêm một tuổi
một tuổi già vui với cháu con ,
thêm tuổi , lòng ta thêm trẻ lại ...
tạ cùng Trời đất chút lòng son !

bn

1/19/23

ĐẦU NĂM CHÚC TẾT…TỨ PHƯƠNG VÀ THỤ NHÂN

Cung Chúc Tân Xuân HUỲNH VĂN CỦA


Lại mừng Năm Mới phải chúc nhau,

Thôi theo thông lệ  chúc vài câu  :

Phát tài, Phát Lộc, đừng phát sốt.

Sống dai, sống khỏe, sống dài lâu.


Chúc hàng Lãnh Đạo nước Mỹ ta,

Dù là Dân Chủ  hay Cộng Hòa,

Hãy đặt  DÂN, NƯỚC lên trên Đảng

Nếu không, đâu khác bọn Tàu, Nga.


Chúc cho Lãnh Tụ khắp mọi miền,

Chớ nên giở chứng giống Putin,

Xâm lược…bảo : “hành quân đặc biệt”,

Ôm nhiều tham vọng quá hóa điên !!!


Chúc riêng xếnh xáng Tập Cận Bình,

Quyền uy nắm vững chẳng rung rinh

Nhưng đừng hù dọa dùng bom đạn,

Kẻo vang tiếng rủa : bình ! bình ! bình !


Đó là : thế sự với nhân sinh,

Bây giờ đến lượt Thụ Nhân mình.

Đầu Năm tưởng kính Người Đã Khuất,

Dâng nén hương bày tỏ chân tình.


Với người hiện diện ở dương gian,

Kính chúc : PHÚC-LỘC-THỌ An Khang.

THẦY, CÔ hưởng phước luôn mạnh khỏe,

Đồng Môn xí xóa : vui cả làng.


Kế tiếp Xuân sang chúc mọi người,

Một năm trọn vẹn : thật vui tươi,

Bỏ phiền, gác giận, đừng bực bội.

Hào phóng, xài sang : Vạn Nụ Cười.


Sau hết chúc riêng “Đám Già Gân”

Vẫn còn cố bám…cõi hồng trần,

Cứ nghĩ mình già nhưng chưa háp !

Thôi thì rán trụ thêm mấy Xuân ?


Cũng đồng trang lứa nên nhắc nhau,

QÚY MÃO nên tránh bị Mèo cào.

“Non bồng, nước nhược” không còn sức.

Đừng gắng…làm chi…kẻo té đau !


Câu kết vẫn dành Chúc THỤ NHÂN,

Cuộc đời dâu…bể , lắm gian truân.

Chúng Ta vẫn giữ… lòng son sắt.

Để tình đẹp mãi : Xuân và Xuân !


XUÂN QUÝ MÃO 2023

HÀN SĨ PHAN



Xin cảm ơn anh Hàn Sĩ gửi cho “mười thang thuốc bổ” !
Trong hòan cảnh hiện tại, đọc thơ vui của anh Hàn Sĩ không những Ai Cơ bật cười được mà còn bừng nhớ lại trước kia mình cũng thích viết những bài thơ tếu nhộn. Chẳng hạn như bài sau đây:

 

AI SAO MÌNH VẬY


Thiên-hạ mừng xuântớ cũng mừng,

 chúc Tết cũng tưng-bừng,

Đào, mai nở rộ vườn sau trước

Chỉ phải mua vài tấm bánh chưng.

 

Thiên-hạ về hưutớ cũng về,

Kẻo khôngbịnh tật cứ rề rề,

Dóp (1)quyềnsì-trét (2) nhường đàn trẻ,

Triệu-phú thời-gian”, tớ sướng ghê!

 

Thiên-hạ ngao-du, tớ cũng du,

Trèo non, vượt suối cũng lu ,

Ăn ngonngủ đượcthần tiên quá,

Người cứ tròn ra như cái lu!

 

Thiên-hạ tìm quêntớ cũng quên,

Bao nhiêu u-uẩnnỗi niềm riêng

Đi-men-sa (3) xóa cho bằng hết,

Xóa cả tinh-anh, lẫn… tuổitên!

 

Thiên-hạ ươm tớ cũng ,

 tình già cứ đẹp như thơ,

 ai sánh bước bên ai mãi,

 gối chông chênhtrí mịt mờ.

 

-AiCơ HoàngThịnh-

--------------------------------------

(1) job = công việc

(2) stress = áp lực

(3) dementia = sa sút trí tuệ



        Thiên hạ làm thơ, tớ cũng làm,
       Chữ nghĩa không có, vẫn còn tham,
       Nào là thất ngôn, với  tứ tuyệt,
       Đọc lại ô hay, rất tầm xàm.

Nguyễn Thành Đức

1/18/23

Tất niên rước ông bà

Việc tế tự tổ tiên trong Tết Nguyên đán khởi đề từ lễ rước ông bà vào ngày cuối năm, thường tổ chức vào buổi chiều hôm đó, gọi chung là lễ cúng tất niên.

Vua chúa làm lễ hạp hưởng cung thỉnh các bậc tiên đế về dự Tết sớm hơn, vào ngày 22 tháng chạp. Lệ xưa, các quan lại làm lễ rước tổ tiên vào buổi sáng và dân chúng làm lễ rước ông bà của mình vào buổi chiều.

Theo miêu tả hồi đầu thế kỷ XX, cảnh tượng lễ rước ông bà ở Nam Kỳ thật trang nghiêm. Tất cả cửa lớn, cửa sổ đều mở toang. Người ta đốt nhang, cắm dày theo hai bên lối đi từ cổng vào cửa chính cốt để vong hồn tổ tiên biết lối về nhà.

Trẻ con mặc đồ mới tươm tất và mặt mày hớn hở. Chủ nhà hay con trai trưởng, hoặc người lớn nhất theo thứ tự trực hệ, mặc lễ phục đàng hoàng và giữ vẻ mặt tươi tắn nhưng trang nghiêm đứng ra thực hành việc tế tự. Khi lễ vật được bày biện đâu vào đó, chủ lễ bắt đầu thắp đôi đèn sáp và đốt hương.

Lễ lạy có 4 lạy. Lạy xong, chủ lễ bỏ trầm vào lư để đốt lên. Lễ xong bàn thờ tổ tiên bên nội, chủ lễ đến lễ bái tổ tiên họ ngoại... Kế tiếp là vợ và con, cháu lần lượt lễ bái tổ tiên.

Chủ lễ đứng hầu bên bàn thờ, thỉnh thoảng châm thêm rượu vào chung, cốt đủ ba tuần rượu. Khi nhang tàn, chủ lễ rót nước trà và tiến hành lễ bái tạ. Kể từ giờ phút đó đến lễ tiễn ông bà vào ngày mùng 4, tổ tiên luôn hiện diện ở đây.

Do đó, hàng ngày bày biện lễ vật cúng 2 lần chính và hai lễ phụ với bánh, mứt, kẹo, trà. Một cách tổng quát, tập tục thờ cúng tổ tiên có lịch sử lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của dân tộc ta.

Việc thờ cúng tổ tiên, một mặt, biểu thị lòng hiếu kính, khiến con cháu biết giữ lấy lòng “Báo bản tư nguyên” và thủ nghĩa “Uống nước nhớ nguồn”; mặt khác, việc thờ cúng tổ tiên còn là hành vi tôn giáo sùng bái linh hồn, trên cơ sở tín lý linh hồn bất diệt.

Theo đó, tập hợp vong hồn tổ tiên trở thành một trong các gia thần có công năng giám sát và phù hộ cho con cháu. Việc tế tự tổ tiên trong Tết Nguyên đán khởi đề từ lễ rước ông bà vào ngày cuối năm, thường tổ chức vào buổi chiều hôm đó, gọi chung là lễ cúng tất niên.

Về chức năng, lễ rước tổ tiên này có phần giống như lễ tiên thường trước ngày giỗ/kỵ, nhằm cung thỉnh vong linh người quá vãng về dự hưởng ngày giỗ chính. Điểm khác, đối tượng của lễ rước tổ tiên cuối năm là tất cả vong linh tổ tiên chứ không phải đối tượng chính của từng cuộc cúng giỗ.

Ở đây, cũng cần lưu ý một điều là theo Gia lễ của Nho giáo, tập tục thờ tự tổ tiên chủ vào 4 đời, tính từ thế hệ của người đảm nhận việc thờ tự tổ tiên của từng gia tộc.

Quy định “Ngũ đại mai thần chủ”: Tổ tiên đời thứ năm không thờ cúng nữa, và thần chủ/ bài vị của bậc tổ tiên đó phải đem chôn.

Đây là quy phạm được tuân thủ lâu đời, đã trở thành truyền thống, song do tín niệm linh hồn bất tử nên linh hồn các bậc tổ tiên nhiều đời, thần chủ đã được chôn, vẫn được coi là còn tồn tại trên cõi thiêng và vẫn là đối tượng cung thỉnh về dự lễ Tết, thậm chí cả trong các tế tự, giỗ quảy khác với tư cách là các vong hồn tổ tiên được cung kính thỉnh mời rằng “Đồng lai dự hưởng”.

Việc tế tự tổ tiên, ngoài việc tỏ bày lòng “báo bản tư nguyên” còn cầu linh hồn tổ tiên ban phúc, giúp gia đình/gia tộc hưng thịnh, mùa màng bội thu, vật nuôi phát triển, và việc làm ăn, học hành, thi cử... đều được hanh thông.

Nói cách khác, linh hồn tổ tiên là một loại gia thần hay rộng hơn là tập hợp phúc thần. Các dữ liệu dân tộc học cho thấy một số tộc người chỉ thờ cha mẹ, hoặc cha mẹ và ông bà nội là “ma nhà” (hiểu là vong linh thân tộc bảo hộ/giám sát con cháu hiện tiền sống trong gia đình) và tổ tiên thuộc thứ bậc trên (cố, cụ...) là ma mường, ma bản, ma nương, ma rẫy... tức tập hợp các bậc tổ tiên không thờ tự làm “ma nhà” vẫn là các vong linh bảo hộ cộng đồng.

Điều này chỉ ra rằng toàn bộ vong linh tổ tiên quá vãng là đối tượng được cung thỉnh trong lễ rước tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Tín ngưỡng sùng bái tổ tiên được các nhà nghiên cứu cho rằng được xác lập từ chế độ thị tộc phụ hệ thuộc hậu kỳ xã hội nguyên thủy.

Về sau, với ảnh hưởng Nho giáo, việc tế tự tổ tiên được xác định là một chuẩn tắc của quy phạm hiếu đạo - nền tảng của chế độ tông pháp, nên trong chừng mực nào đó, tín ngưỡng sùng bái tổ tiên càng lúc có được vị trí áp đảo việc sùng bái thiên thần.

Do đó, việc tế tự tổ tiên có vị trí đặc biệt quan trọng trong ba ngày Tết. Khởi đi từ lễ rước tổ tiên đến lễ tiễn ông bà (mùng 3 hay mùng 4 Tết), thế gian bước vào một cảnh giới thiêng: Vong linh tổ tiên quá vãng cùng chung sống với cháu con.

Cảnh giới âm - dương song tồn này trong chừng mực nào đó tương đồng với khoảnh khắc thời gian mở cửa địa ngục của ngày rằm tháng bảy âm lịch, tức lễ vía Địa quan giải tội của Đạo giáo, hay lễ Vu Lan xá tội vong nhân của Phật giáo.

Chính vì vậy, Tết không chỉ là thời điểm thiêng của trời đất mà còn là cuộc sống đặt dưới sự chứng giám của tổ tiên. Do vậy, con cháu phải thận trọng từ lời ăn tiếng nói đến mọi hành vi.

Người ta tin rằng những gì diễn ra trong ngày đầu năm đều có tác động đến mọi việc tốt xấu trong cả năm và việc tế tự tổ tiên trong ba ngày Tết cũng được chú trọng sao cho tươm tất và trang nghiêm từ việc thực hiện tế tự đúng theo lễ nghi truyền thống đến việc chuẩn bị các lễ vật, cúng phẩm sao cho hợp lễ.

Sưu tầm

1/16/23

Bản Tin Thụ Nhân Âu Châu - Số 41 Tháng 01.2023


Đính chánh: (Email của anh Lưu Văn Dân ngày 23.01.2023)

"Trong Bản tin số 41 vừa qua, Nhóm Biên soạn đăng bài Chuyện Khu Hoà Bình Đà lạt
tưởng là của anh Huỳnh Hưng, nhưng không phải. Chúng tôi xin cáo lỗi với anh Hưng
và các bạn Thụ nhân cùng quý vị độc giả vì sự thiếu thận trọng này."

1/15/23

Ông Lão dắt Ruà Vàng Khổng Lồ Đi thiền hành

Ngày nào cũng vậy, người dân quanh thị trấn Tsukishima ở Tokyo, Nhật Bản, cũng thấy một ông lão dắt rùa đi thiền hành.

Thỉnh thoảng, người dân còn bắt gặp một bé gái cưỡi trên lưng rùa. Loài rùa này có tên khoa học là Centrochelys sulcata, thường sống ở rìa nam sa mạc Sahara, phía bắc châu Phi. Đây là loài rùa lớn thứ ba thế giới, và là loài rùa cạn lớn nhất thế giới.

Rùa Vàng Đi Thiền Hành
Mỗi ngày vào buổi sáng
Rùa vàng đi thiền hành
Thong thả thật thanh thản!
Thở không khí trong lành
 
Mùa lạnh rùa mặc áo
Trông ngộ nghĩnh dễ thương
Ngoan ngoãn đi bên chủ
Suốt cả dặm đường trường(*)
Đi thiền hành im lặng
Chân thong thả bước đi
Mắt chỉ nhìn xuống đất
Không lo nghĩ chuyện gì!
 
Mắt không nhìn quanh quẩn
Không lưu ý việc chi!
Cảnh trần là như vậy
Không vọng niệm sân si..!
 
Tâm theo dõi hơi thở
Cuộc đời trong sát-na
Không bám víu cuộc sống
Việc đến rồi đi qua!
 
Nhẹ nhàng chân chạm đất
Không vội vả bước nhanh
Nhận biết khi xúc chạm
Không suy nghĩ quẩn quanh!
 
Biết đủ tâm bớt khổ
Không tham lam việc đời
Sống từ bi hỉ xả
Thư giãn thật thảnh thơi.
 
Đi thiền hành thư giãn
Im lặng như rùa vàng
Hiện tại tâm an lạc
Ra đi nhẹ hành trang.
 
 
(*) Đi 1 cây số rưởi mỗi ngày.