Freitag, 2. September 2016

Hắc Dạ Ca - 黑 夜 歌

Dạo:

Chỉ vì vận nước dảo điên,
Đau lòng ngựa đá đêm đêm thét gào.
Cóc cuối tuần:

,
.
,
.
,
.
,
.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Hắc Dạ Ca

Thê phong diêu dạ liễu,
Diệp lạc sầu di điểu.
Cơ vụ điếu tàn bi,
Bạc yên vi phá miếu.
Canh trường, mộng triệu đa,
Lộ hiểm, xa tung thiểu.
Thạch mã khiếu không viên,
Tang điền, cô nguyệt chiếu.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Khúc Hát Đêm Đen

Gió lạnh lay (cành) liễu đêm,

Lá rụng (làm) buồn con chim thiên di.
Con vịt trời đói đi phúng cái bia (đá) vỡ,
Khói nhạt vây quanh ngôi miếu đổ nát.
Canh (đêm) dài, (nên) lắm điềm mộng,
Đường hiểm trở, (nên) ít dấu vết xe (qua).
Ngựa đá hí vườn trống, (*)
(Trên) ruộng dâu, con trăng cô độc chiếu.

Ghi chú:

(*)Tương truyền rằng sau khi quân nhà Trần đại thắng quân Nguyên, chân các con ngựa đá ở lăng vua Trần Thái Tông đều lấm bùn. Người ta cho đó là vì các con ngựa đá này đã ra trận đánh giặc giúp quân Nam giữ gìn xã tắc. Vua Trần Nhân Tông bèn tức cảnh làm hai câu thơ:

社稷兩回勞石 馬,
山河千古奠金 甌.

(Âm: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

Nghĩa: Xã tắc hai lần ngựa đá mệt nhọc,
Sơn hà ngàn năm vững như cái bồn bằng vàng)

Phỏng dịch thơ:

Khúc Hát Đêm Đen

Gió lay cành liễu đêm thâu,
Lá khuya rơi rụng thêm sầu bóng chim.
Mộ bia hoang, vịt đói tìm,
Miếu xưa, khói trắng im lìm vây quanh.
Lắm chiêm bao bởi dài canh,
Vắng xe cộ bởi gập ghềnh lối xa.
Vườn không, ngựa đá thét la,
Ruộng dâu một ánh trăng già lẻ loi.

Trần Văn Lương

Cali, 9/2016

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Hỡi ơi, ngựa đá hí bao đêm mà kỵ mã ra roi đâu chẳng thấy!
Cuối cùng chỉ còn một ánh trăng cô độc le lói trên mảnh ruộng dâu của định mệnh buồn.
Than ôi!

Keine Kommentare: