1/22/26
1/15/26
Vật Vờ Cõi Tạm
Cóc cuối tuần:
Vật Vờ Cõi Tạm
Sai một niệm, nên đất trời xa cách, (1)
Mấy chục năm dài ì ạch lo toan,
Cái tâm còn chưa gặp được người an, (2)
Nên lạc lõng, Niết bàn quên mất lối.
Miệng lẩm nhẩm một vài câu sám hối
Nhưng cuối cùng chẳng biết gửi cho ai.
Thân lang thang qua những tháng năm dài,
Vẫn dấn bước miệt mài trong cõi dục.
Càng mong mỏi, càng mưu cầu hạnh phúc,
Thì bến bờ càng lúc lại càng xa.
Rất nhiều khi lầm tưởng đến được nhà,
Nào có biết đây chỉ là cõi tạm.
Đường trần thế vốn muôn phần ảm đạm,
Chặng cuối đời càng thê thảm tái tê.
Trót vì còn nặng nợ ở bến mê,
Nên đành phải lết lê trong bể khổ.
Lao xao sóng vỗ,
Tìm cứu độ nơi nao,
Luân hồi sáu nẻo lao xao,
Làm sao biết kiếp nào là kiếp chót?
Ải không cửa dù may qua trót lọt, (3)
Lối quay về chót vót lắm non cao.
Xác thân dần theo ngày tháng hư hao,
Đường giải thoát còn bao nhiêu trắc trở.
Tìm tòi trong sách vở,
Thấy dạy rằng Phật tính ở trong ta,
Phật là tâm, tâm là Phật tại nhà, (4)
Nghiền ngẫm mãi vẫn xa đường cách ngõ.
Công án cũ tham hoài chưa chứng ngộ, (5)
Cứ lăng quăng tìm kiếm chỗ an tâm,
Lòng thầm lo, chỉ một thoáng sai lầm,
Sẽ muôn kiếp trầm luân trong ác đạo.
Hết mọi sự đều chính do tâm tạo, (6)
Tự mình gây dông bão lấp đường xưa.
Vì vô minh, bị bốn tướng đánh lừa, (7)
Nên vẫn cứ mê mờ tìm chỗ trụ.
Trót xa rời quê cũ,
Đời tạm trú gian nan,
Tâm này nếu chửa được an,
Thì ngõ đến Niết bàn còn xa lắc.
Trần Văn Lương
Cali, 1/2026
Ghi chú:
(1) Tín Tâm Minh, Tam Tổ Tăng Xán, câu 5-6:
"
Hào ly hữu sai,
Thiên địa huyền cách.
"
Nghĩa:
"Chỉ sai đi một ly,
Đất trời bèn xa cách."
(2) Bích Nham Lục, tắc 96 ; Triệu Châu Tam Chuyển Ngữ,
bản dịch của Thiền sư Mãn Giác.
Trích lời Bình của Viên Ngộ:
"
...
Tổ Đạt-ma nói: Diệu đạo của chư Phật nhiều kiếp tinh cần, khó làm mà hay làm, khó nhẫn mà hay
nhẫn, há lấy đức nhỏ trí nhỏ, tâm khinh tâm mạn, mong được chân thừa, không có lẽ ấy. Nhị Tổ nghe
dạy răn, lòng mộ đạo càng thiết, lén lấy dao bén tự chặt tay trái, đến trước dâng Tổ Đạt-ma. Đạt-ma
biết là pháp khí, bảo: Ông đứng ngoài tuyết chặt tay, sẽ vì việc gì? Nhị Tổ thưa: Tâm con chẳng an,
xin Thầy pháp an tâm. Đạt-ma bảo: Đem tâm ra, ta vì ông an. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm trọn không thể
được. Đạt-ma nói: Vì ông an tâm xong. Sau Đạt-ma đổi tên cho Ngài là Huệ Khả.
...
"
(3) Tạm dịch chữ "Vô Môn Quan" của Thiền tông.
(4) "Tức tâm tức Phật"
http://thuongchieu.net/index.
Trích:
"
...
Thiền sư Pháp Thường
(Đại Mai) (752 - 839)
Sư họ Trịnh, quê ở Tương Dương, lúc nhỏ xuất gia theo thầy ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu.
Ban sơ đến tham vấn Mã Tổ, Sư hỏi:
- Thế nào là Phật?
Mã Tổ đáp:
- Tức tâm là Phật.
Sư liền đại ngộ.
...
"
(5) Về công án, xin xem:
https://thuvienhoasen.org/
(6) Kinh Hoa Nghiêm (kệ Phá Địa Ngục): "Nhất thiết duy tâm tạo" (Tất cả đều do tâm tạo ra)
(7) Theo Kinh Kim Cang, bốn tướng là: Ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng.
12/25/25
Khúc Giáng Sinh Buồn
Dạo:
Đêm nay Con Chúa giáng trần,
Thương thay có kẻ cô thân lìa đời.
Cóc cuối tuần:
Khúc Giáng Sinh Buồn
Đêm tháng chạp, trời tối đen như mực,
Trong nhà già, ông lão thức nhìn quanh.
Hành lang dài trông trống trải lạnh tanh,
Hương giá lạnh bập bềnh nương bóng tối.
Ông ngọ nguậy, chờ cho lưng bớt mỏi,
Khẽ xoay mình, gắng gỏi gượng đứng lên,
Chiếc gậy mòn luôn dựng sẵn kề bên,
Ông nắm lấy, rồi miên man nghĩ ngợi.
Từ sáng sớm, ông ôm hoa chờ đợi,
Mong con mình có đứa tới hôm nay,
Đưa ông ra nghĩa địa vốn gần đây
Để ông được thăm bà ngày Chúa đến.
Quá khứ lại thêm một lần hiển hiện,
Nhắc nhở ông đến chuyện cũ đau lòng,
Mười năm rồi, vào một buổi xế đông,
Bà đã giã biệt ông, về tiên cảnh.
Và từ đó, trong căn nhà hiu quạnh,
Nỗi nhớ thương canh cánh chẳng hề ngơi,
Ông cô thân vò võ giữa dòng đời,
Con cháu đã đều có nơi có bến.
Mỗi mùa Nô En đến,
Ông cho dù bận công chuyện bao nhiêu,
Đều mang hoa ra nấm mộ thân yêu,
Cùng bà trút hết mọi điều thương nhớ.
Nhưng trời xanh cắc cớ
Bắt ông luôn chịu khổ sở trăm đường,
Cả năm rồi lui tới mãi nhà thương,
Gần như sắp phải liệt giường liệt chiếu.
Bầy con hiếu không đứa nào khứng chịu
Chăm nuôi người đau yếu, ngại phiền hà,
Nên đồng lòng hể hả bỏ người cha
Ngay một sớm vào trong nhà dưỡng lão.
Ông vẫn cố nuôi niềm hy vọng hão,
Các con còn chút hiếu thảo với ông.
Nhưng giờ đây, ông biết tận đáy lòng,
Tình cảm chúng quyết không còn gì cả.
x
x x
Chuông Thánh Lễ vang từng hồi rộn rã,
Báo tin mừng Con Chúa đã sinh ra.
Vừa thoáng vui, lòng đã vội xót xa,
Ông biết chẳng thăm mộ bà được nữa.
Chợt luống cuống, ôm hoa lần ra cửa,
Tưởng thấy bà đang ở đó chờ ông.
Vụng về tay làm rớt chiếc gậy xong,
Ông loạng choạng, trước cửa phòng ngã vật.
Trong phút chốc, tiếng bước chân rầm rập,
Từ cuối đường, còi cấp cứu rền vang.
Khắp hành lang đèn đuốc vụt sáng choang,
Nhân viên trực rộn ràng lo xếp đặt.
Ông lão xác cứng đờ chưa nhắm mắt,
Bó hoa con, ôm chặt mãi không rời,
Giọt thương cảm cuối đời
Còn đọng lại trên bờ môi tím ngắt.
Trần Văn Lương
Cali, 12/2025
11/13/25
Dạ Khách - 夜 客
Dạo:
Thoảng nghe tiếng gõ bên thềm,
Phải chăng định mệnh trong đêm đến tìm.
Cóc cuối tuần:
黑 月 輕 輕 叩 閉 窗,
敲 聲 慢 慢 透 孤 房.
老 翁 倚 杖 開 門 看,
隻 葉 辭 枝 伴 冷 風.
陳 文 良.
Âm Hán Việt:
Dạ Khách
Hắc nguyệt khinh khinh khấu bế song,
Xao thanh mạn mạn thấu cô phòng.
Lão ông ỷ trượng khai môn khán,
Chích diệp từ chi bạn lãnh phong.
Trần Văn Lương
Dịch nghĩa:
Người Khách Đêm
Mặt trăng đen nhè nhẹ gõ cánh cửa sổ (đang) đóng,
Tiếng gõ chầm chậm lọt vào trong căn phòng đơn lẻ.
Ông già chống gậy mở cửa để nhìn,
(Chỉ có) một chiếc lá cô độc từ giã cành (để) làm bạn với gió lạnh.
Phỏng dịch thơ:
Người Khách Đêm
Cửa đóng, trăng đen gõ nhẹ nhàng,
Tiếng vang len lỏi vượt hành lang,
Hoang mang ông lão lần ra ngõ,
Chỉ gió lạnh đưa xác lá vàng.
Trần Văn Lương
Cali, 11/2025
Lời than của Phi Dã Thiền Sư :
Có trăng màu đen thật ư? Và trăng biết gõ cửa ư?
Than ôi, phải chăng là Thần Chết hóa trang?
Chiếc lá cô độc lìa cành bị cơn gió lạnh mang đi.
Buồn thay!
Có lẽ nào đó là số phận của ông lão đêm nay?
Hỡi ơi!
9/2/25
8/29/25
Dây Dưa Nỗi Nhớ
Dạo:
Đêm dài nỗi nhớ
Cắc cớ về thăm.
Xơ xác thân tằm,
Gối chăn lạnh lẽo.
Cóc cuối tuần:
Dây Dưa Nỗi Nhớ
Sân sau, bụi chuối nổi khùng,
Hầm hè đuổi gió ra vùng đất hoang.
Sương khuya trắng trộn trăng vàng,
Trên khung trời vắng trễ tràng mây giăng.
Đau lòng ai có biết chăng,
Môi tê lời đắng, mắt căng lệ hồng.
Một đời cách bến xa sông,
Có nghe tiếc nuối gì không hỡi lòng?
Ngập ngừng dế gáy bên song,
Tưởng bài ca cũ về hong bóng sầu.
x
x x
Phải xưa em chịu gật đầu,
Thì hai đứa vẫn chuyến tàu về chung.
Anh giờ đời đã đóng khung,
Mỏi mòn thân xác, lạnh lùng gối chăn.
Một mình trăn trở trở trăn,
Ăn năn chẳng biết ăn năn tội gì.
Tham sân si, chỉ còn si,
Cúi xin Trời Đất cất đi cực hình.
Khư khư ôm mãi chữ tình,
Long đong số phận, linh đinh bước đời.
Ngậm ngùi đếm giọt đêm rơi,
Âm thầm nhớ đến một thời xa xưa.
Nhớ trò vụng dại đón đưa,
Nhớ ngày nắng sớm chiều mưa thất thường,
Nhớ khi lóng ngóng bên đường,
Nhớ lần quýnh quáng sân trường chạm vai,
Nhớ ba tháng hạ kéo dài,
Nhớ niên học cuối bóng ai mịt mù.
x
x x
Thế rồi thu tiếp nối thu,
Mấy mươi năm thoắt vù vù qua nhanh.
Giờ đây lá sắp xa cành,
Dây dưa nỗi nhớ năm canh thì thầm.
Bên ngoài giả điếc giả câm,
Bên trong vẫn mãi ngấm ngầm xót xa.
Bể tình may mắn thoát qua,
Ngu si chẳng lẽ là quà Trời ban.
Thôi đừng than thở thở than,
Cũng đừng trách móc phàn nàn gì nhau.
Từ nay cho đến ngàn sau,
Trầu xanh vĩnh viễn với cau khác đường.
Canh dài trằn trọc vấn vương,
Ánh trăng đã tắt đầu giường nào hay.
Trần Văn Lương
Cali, 8/2025